- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/HS-ST Ngày 07-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Long;
2. Bà Nguyễn Thị Bảo Khuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Lan, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.
- Đại diện VKSND thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Trà Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2023/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn H C, sinh năm 1995, nơi sinh: tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố X, Phường Y, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn H V, sinh năm 1967; mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 27-8-2023 chuyển tạm giam từ ngày 30-8-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tây Ninh; bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 27-8-2023, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên Nguyễn H C đón xe ôm đi đến khu vực quán cà phê C M trên đường 30/4 thuộc khu phố E, Phường F, thành phố Tây Ninh tìm gặp người tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, C cất giấu bịch nylon chứa ma tuý vào túi quần phía sau bên phải rồi đi xe ôm đến hẻm Z, đường Cách mạng Tháng 8 thuộc khu phố X, Phường Y, thành phố T. Khi đi đến cổng nhà nghỉ H M, C dừng lại dự định vào nhà nghỉ thuê phòng để sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an Phường Y, thành phố T kiểm tra phát hiện bắt quả tang; thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của C bịch nylon loại kẹp đầu chứa tinh thể rắn trong suốt; C khai nhận là ma tuý C cất giữ để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 1363/KL-KTHS ngày 29-8-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,9889 gam.
Quá trình điều tra Nguyễn H C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Qua xác minh, bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên tài sản.
Đối với người tên Q bán ma tuý cho C, do không biết họ tên, địa chỉ nên không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn H C, Công an Phường Y, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 114/CT-VKSTPTN ngày 01-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn H C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
+ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn H C từ 15 đến 18 tháng tù.
+ Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 củ Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong ghi số vụ 1363 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Nguyễn Chí Lợi và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đã truy tố, có cơ sở xác định: Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 27/8/2023, tại hẻm Z, đường Cách mạng Tháng 8, khu phố X, Phường Y, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn H C có hành vi tàng trữ trái phép 0,9889 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; có cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn H C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,9889 gam; hành vi này xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội nên cần nghiêm trị.
Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong ghi số vụ 1363/KL-KHHS ngày 29-8-2023 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Nguyễn Chí Lợi và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-11- 2023).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn H C 01 (một) năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27-8-2023.
2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong ghi số vụ 1363/KL-KHHS ngày 29-8-2023 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Nguyễn Chí Lợi và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-11- 2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm hình sự.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng KTNV TA tỉnh; - VKSND TPTN; - VKSND tỉnh; - Nhà tạm giữ; - Đội ĐTTP. về TTATXH; - Đội PV 06; - Chi cục THADS. TPTN; - Bộ phận THAHS; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN; - Bị cáo; - Người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Phan Tuyến |