vanban.org

Bản án 114/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn L có trách nhiệm nuôi cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 6/5/2009 và cháu Nguyễn Gia V sinh ngày 25.9.2016 (các cháu hiện đang sống cùng anh L), chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:114 /2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 04 - 2023
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lưu Xông Pha

Ông Bùi Xuân Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 106/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về việc “Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn L, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. ( có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2023 và lời trình bày nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

- Về hôn nhân: anh L và chị H tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 89/2014, ngày 20.05.2014). Quá trình chung sống có 2 con chung tên Nguyễn Gia H1, sinh ngày 6/05/2009, Nguyễn Gia V sinh ngày 25.9.2016, ( con chung hiện anh L đang nuôi dạy).

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cải nhau. Xét thấy không hạnh phúc nên yêu cầu xin ly hôn với Nguyễn Thị H.

Về tài chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về con chung: Yêu cầu tiếp tục nuôi 2 con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Bị đơn Nguyễn Thị H:

Tòa án đã triệu tập bị đơn nhiều lần để hòa giải và để xét xử nhưng bị đơn không có mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn và bị đơn củng không có ý kiến phản hồi về việc khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về mối quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con với bị đơn, do đó xác định mối quan hệ pháp luật giữa các đương sự là “Ly hôn và nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện T, nội dung tranh chấp là việc “Ly hôn và nuôi con”, nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về thủ tục của Tòa án: Đối với nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn vắng mặt không rỏ lý do, nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tiến bộ là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau; nhưng anh L và chị H không làm được điều đó mà ngược lại làm cho đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, anh L đã xác định không còn hạnh phúc với chị H. Đối với bị đơn chị H Tòa án đã triệu tập 2 lần để hòa giải nhưng chị H không có mặt và củng không có ý kiến gì về việc anh L xin ly hôn, như vậy chứng tỏa chị H không quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng với anh L. Do đó xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị H không có thiện chí hàn gắn được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Xét về con chung: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 6/05/2009 và cháu Nguyễn Gia V sinh ngày 25.9.2016, từ ngày chị H và anh L sống ly thân với nhau cháu H1 và cháu V được anh L nuôi dạy chu đáo, anh L xác định đủ điều kiện và yêu cầu được nuôi 2 cháu. Hơn nữa tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu H1 có nguyện vọng sống với cha (anh L). Do đó chấp nhận giao cháu Nguyễn Gia H1 và Nguyễn Gia V cho anh L nuôi dạy là phù hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Việc thăm mon chăm sóc con chung: Chị H có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này và chị H phải tôn trọng quyền của cháu H1 và V được sống với anh L là phù hợp với Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn cho rằng tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên quá trình thụ lý giải quyết vụ kiện chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn nên Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung và nợ chung ra khi nào các đương sự yêu cầu mà có căn cứ thì giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Xét về án phí: Anh L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn L có trách nhiệm nuôi cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 6/5/2009 và cháu Nguyễn Gia V sinh ngày 25.9.2016 (các cháu hiện đang sống cùng anh L), chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị H có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai ngăn cản chị H thực hiện quyền này và chị H phải tôn trọng quyền của các con được sống với anh L.

2.Về án phí sơ thẩm: Anh L phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh L đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số 0006171 ngày 14/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ