vanban.org

Bản án 114/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Cẩm N về việc ly hôn đối với ông Lý

Về hôn nhân: Bà Lê Cẩm N và ông Lý Minh D được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Lý Khánh B, sinh ngày 16/11/2021 (giới tính nữ) cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Cẩm N yêu cầu được ly hôn với ông Lý Minh D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Cẩm N về việc ly hôn đối với ông Lý
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn

Ông Trần Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới

Bình, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình,

tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Cẩm N, sinh năm 2003 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã KA, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lý Minh D, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã TB huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trình bày của bà Lê Cẩm N:

Về hôn nhân: Bà Lê Cẩm N và ông Lý Minh D tự nguyện chung sống với

nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã KA, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/5/2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông D không quan tâm đến vợ con, không chăm lo làm ăn, xét thấy hôn nhân không thể kéo dài bà N yêu cầu được ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà N và ông D có 01 con chung tên Lý Khánh B, sinh ngày

16/11/2021 (giới tính nữ), hiện do bà N đang nuôi dạy. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con theo mức cấp dưỡng do pháp luật quy định.

Về tài sản chung: Bà N và ông D tự thỏa thuận phân chia, không đặt ra yêu cầu

xem xét;

Nợ chung: Bà N xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Cẩm N khởi kiện yêu

cầu được ly hôn với chồng là ông Lý Minh D. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông Lý Minh D có nơi cư trú tại ấp B, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Lý Minh D đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt

không có lí do, bà Lê Cẩm N xin vắng mặt. Do đó, xét xử vắng mặt bà N, ông D theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Hôn nhân: Bà Lê Cẩm N và ông Lý Minh D tự nguyện chung sống với

nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã KA, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/5/2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông D. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông D đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, bà N xác định bà và ông D không còn tình cảm, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông D vắng mặt không có lí do, bà N xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà N và ông D được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Bà N và ông D có 01 con chung tên Lý Khánh B, sinh ngày

16/11/2021 (giới tính nữ), hiện do bà N đang nuôi dạy. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con theo mức cấp dưỡng do pháp luật quy định. Xét thấy, con chung hiện sống chung với bà N, dưới 36 tháng tuối, là nữ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, ông D không có ý kiến phản hồi về việc bà N yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nên cần thống nhất để cho bà N nuôi con nên chấp chấp nhận cho bà N được tiếp tục nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Ông D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền tương ứng ½ mức lương căn bản/tháng, tính thời điểm hiện tại là 745.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung: Bà N xác định vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không đặt

ra yêu cầu xem xét, ông D không có ý kiến gì phản hổi. Do đó, không xem xét là phù hợp.

Về nợ chung: Bà N xác định vợ chồng không có nợ chung. Quá trình giải

quyết vụ án không ai đặt ra yêu cầu xem xét về nợ chung của vợ chồng nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí Hôn nhân

gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83,116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Cẩm N về việc ly hôn đối với ông Lý

Minh D.

Về hôn nhân: Bà Lê Cẩm N và ông Lý Minh D được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Lý Khánh B, sinh ngày 16/11/2021 (giới tính nữ) cho

bà N tiếp tục nuôi dạy, ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền tương ứng ½ mức lương căn bản/tháng, tính thời điểm hiện tại là 745.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung: Bà N và ông D tự thỏa thuận phân chia nên không đặt ra yêu

cầu xem xét.

Nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Lê Cẩm N nộp án phí Hôn nhân và gia đình 300.000 đồng (ba

trăm nghìn đồng); Ông D nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vào ngày 08 tháng 3 năm 2023, bà N có dự nộp 1.522.000 đồng (một triệu

năm trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai số 0003439 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, đối trừ bà N được nhận lại 1.222.000 đồng (một triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự có mặt biết có quyền

quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ