- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T xin ly hôn S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31 – 8 – 2023 V/v xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mạc Thị Chiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Ngọc Điệp;
2. Bà Lê Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2023/TL.ST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương T, sinh năm 1985; trú tại: Ấp Trường Hiệp, xã Trường Long A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1980; trú tại: ấp Nhơn Hòa, xã NNA, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Phương T trình bày:
Bà và ông Trần Thanh S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã NNA, huyện Châu Thành A. Thời gian đầu bà và ông Sơn chung sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn đến năm 2022 thì hai bên sống ly thân đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chăm sóc gia đình, chăm sóc con cái và phát triển kinh tế. Từ đó, hai người không còn tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Sơn.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Trần Thế H (nam), sinh ngày 02/3/2013 và cháu Trần Thế D (nam), sinh ngày 30/11/2005. Hiện nay con chung đang sống với ông Sơn. Sau khi ly hôn bà đồng ý để ông Sơn được nuôi dưỡng con chung, bà không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Trần Thanh S trình bày: Ông và bà Nguyễn Phương T kết hôn từ năm 2005, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, bà Thúy bỏ về bên cha mẹ ruột sinh sống, ông đã nhiều lần khuyên bà Thúy trở về nhà nhưng bà Thúy không về, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Bà Thúy yêu cầu ly hôn ông đồng ý.
Về con chung: Ông và bà Thúy có 02 con chung là cháu Trần Thế H (nam), sinh ngày 02/3/2013 và cháu Trần Thế D (nam), sinh ngày 30/11/2005. Hiện nay con chung đang sống với ông. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Thúy cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, bà Thúy và ông Sơn vắng mặt, có đơn xin yêu cầu vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Phương T; Về con chung: Giao cháu Trần Thế H (nam), sinh ngày 02/3/2013 và cháu Trần Thế D (nam), sinh ngày 30/11/2005 cho ông Sơn tiếp tục nuôi dưỡng, bà Thúy chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Phương T và ông Trần Thanh S tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NNA, huyện Châu Thành A vào năm 2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Do đó, bà Thúy có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh S. Căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây quan hệ tranh chấp xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Phương T và ông Trần Thanh S vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Sơn, bà Thúy.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Thúy: Bà Thúy và ông Sơn chung sống với nhau và kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, bà Thúy đã về bên cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2022. Nay bà Thúy có đơn yêu cầu xin ly hôn phía ông Sơn cũng không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng, ông đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của bà Thúy. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của ông, bà đã ở trong tình trạng mâu thuẫn trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Thúy và ông Sơn đều không có thiện chí đề hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ theo Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Thúy được ly hôn với ông Trần Thanh S.
Về con chung: Bà Nguyễn Phương T và ông Trần Thanh S có 02 con chung là cháu Trần Thế H (nam), sinh ngày 02/3/2013 và cháu Trần Thế D (nam), sinh ngày 30/11/2005. Theo bà Thúy trình bày, hai con chung hiện đang chung sống với ông Sơn, bà Thúy đồng ý giao hai cháu cho ông Sơn tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Sơn đồng ý nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Thúy cấp dưỡng. Đây là ý chí tự nguyện của các bên đương sự, phù hợp pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu H thể hiện tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/8/2023 (BL26) nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Vì vậy, tiếp tục giao cháu H cho ông Sơn nuôi dưỡng bà Thúy chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, đối với cháu D còn 03 tháng nữa là đủ tuổi thành niên nên để cháu tiếp tục chung sống với ông Sơn là phù hợp. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho bà Thúy không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà Thúy và ông Sơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Phương T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Phương T đối với ông Trần Thanh S. Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 29/3/2006 do Ủy ban nhân dân xã NNA, huyện Châu Thành A cấp cho ông Trần Thanh S và bà Nguyễn Phương T không còn giá trị pháp lý
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thế H (nam), sinh ngày 02/3/2013 và cháu Trần Thế D (nam), sinh ngày 30/11/2005 cho ông Trần Thanh S nuôi dưỡng đến khi trong 18 tuổi, bà Thúy chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm và chăm sóc, giáo dục con chung cho bà Thúy không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Phương T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Thúy đã nộp theo biên lai số 0012449 ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Trương Ngọc Điệp – Lê Thanh Xuân | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Thị Chiên |