- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP B - Nguyễn Trung K"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về việc yêu cầu ông Nguyễn Trung K thanh toán khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 57915TC-CM/HĐTD-LienVietPostBank ngày 19/8/2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/DS-ST Ngày 24-7-2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Đức Tính
Ông Trịnh Hoàng Thám
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2023/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.
Địa chỉ trụ sở: Tầng 1, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà Thaiholdings Tower, số 210 đường T, phường T, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – Chức vụ Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thúy V là Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Cà Mau (có mặt).
Địa chỉ: Số 07B, An Dương Vương, phường 7, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 3, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2023 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 19/8/2015 ông Nguyễn Trung K có ký hợp đồng tín dụng số 57915TC-CM/HĐTD-LienVietPostBank để vay vốn tại Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Cà Mau với số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất cho vay trong hạn là 11%/năm được điều chỉnh theo phương thức cho vay thả nổi và được điều chỉnh 3 tháng/lần theo quy định ngân hàng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp không có tài sản bảo đảm, phương thức thanh toán hàng tháng bao gồm nợ gốc cố định và lãi theo dư nợ thực tế. Từ ngày 19/8/2015 đến ngày 22/01/2020, ông K đã thanh toán được số tiền gốc 40.091.475 đồng và tiền lãi 14.269.979 đồng.
Tính đến ngày 24/7/2023 thì số nợ của ông K bao gồm toàn bộ nợ gốc và lãi là 66.501.373 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần tạo điều kiện cho ông K có thời gian thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng ông K vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Do đó Ngân hàng TMCP B yêu cầu ông Nguyễn Trung K trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 66.501.373 đồng (sáu mươi sáu triệu, năm trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi ba) đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 29.908.525 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.771.578 đồng, tiền lãi quá hạn là 32.821.270 đồng. Buộc ông K phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo quy định trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với ngân hàng kể từ ngày 25/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Nguyễn Trung K và Ủy ban nhân dân xã K không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Trung K và đại diện Uỷ ban nhân dân xã K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
Về quan hệ pháp luật:
Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Hợp đồng tín dụng số HDTD 57915TC-CM/HĐTD-LienVietPostBank ngày 19/8/2015 được xác lập giữa ông Nguyễn Trung K với Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Cà Mau trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, các đương sự không có tranh chấp về các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng nên các đương sự cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng thể hiện ông K vay số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất cho vay trong hạn là 11%/năm được điều chỉnh theo phương thức cho vay thả nổi và được điều chỉnh 3 tháng/lần theo quy định ngân hàng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp không có tài sản bảo đảm, phương thức thanh toán hàng tháng bao gồm nợ gốc cố định và lãi theo dư nợ thực tế.
Từ ngày 19/8/2015 đến ngày 22/01/2020, ông K đã thanh toán được số tiền gốc 40.091.475 đồng và tiền lãi 14.269.979 đồng, sau đó thì không tiếp tục thanh toán theo quy định tại hợp đồng. Do đó, có đủ căn cứ xác định ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết nên cần buộc ông K phải có nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết nợ, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Ngân hàng phù hợp theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.
Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Trung K có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền 66.501.373 đồng (sáu mươi sáu triệu, năm trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi ba) đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 29.908.525 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.771.578 đồng, tiền lãi quá hạn là 32.821.270 đồng, buộc ông K phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo quy định trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với ngân hàng kể từ ngày 25/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% tương ứng với số tiền theo yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về việc yêu cầu ông Nguyễn Trung K thanh toán khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 57915TC-CM/HĐTD-LienVietPostBank ngày 19/8/2015.
Buộc ông Nguyễn Trung K có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền 66.501.373 đồng (sáu mươi sáu triệu, năm trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi ba) đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 29.908.525 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.771.578 đồng, tiền lãi quá hạn là 32.821.270 đồng, buộc ông K phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo quy định trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với ngân hàng kể từ ngày 25/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2023) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Ông Nguyễn Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.325.068 (ba triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn không trăm sáu mươi tám) đồng (chưa nộp).
Ngân hàng TMCP B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 1.630.000 (một triệu sáu trăm ba mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0011202 ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, tỉnh Cà Mau được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngân hàng TMCP B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Trung K và Uỷ ban nhân dân xã K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hồng Ý |