vanban.org

Bản án 114/2022/HSST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số 114/2022/HSST
Ngày 12/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

2. Bà Đinh Kim Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 4, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận 4, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2022/HSST ngày 22/11/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2022/QĐXXST-HS ngày 23/11/2022 đối với:

Nguyễn Hoàng T; Giới tính N; Sinh năm 1983 tại thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú số C, đường T, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú không có nơi cố định; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc kinh; Nghề nghiệp thợ sơn; Trình độ học vấn 01/12; Cha Nguyễn Văn B (chết), mẹ Nguyễn Thị H sinh năm 1949; Chưa có vợ, con. Tiền sự không.

Tiền án: (i) Ngày 02/04/2019, bị tòa án nhân dân quận 6, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/08/2020. (ii) Ngày 06/01/2022, bị tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/07/2022.

Nhân thân: (i) Năm 2007, bị tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt năm 2009. (ii) Năm 2012, bị Ủy ban nhân dân quận H2, thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 02 năm, chấp hành xong quyết định năm 2014. (iii) Năm 2015, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 02 năm, chấp hành xong quyết định năm 2017.

Tạm giam ngày 02/08/2022 (có mặt).

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974. Cư trú: Tổ C, đường P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Khoảng 22 giờ, ngaøy 01/08/2022, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô Honda Vision, biển số 93E1-257.19 đến hẻm A, đường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy của người thanh niên không rõ lý lịch với số tiền là 1.500.000 đồng. Khi mua xong, Nguyễn Hoàng T để vào túi quần phía sau bên phải rồi chạy xe về đến số nhà A, đường B, phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh thì bị tổ tuần tra công an quận D, thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện thu giữ được 01 bịch khăn giấy bên ngoài có chữ “Natural”, bên trong có 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu nâu và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giaùm ñònh soá 4459/KL-KTHS ngaøy 08/08/2022 cuûa Phoøng kyõ thuaät hình söï, coâng an thành phố H xác định 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn, loại Ketamine, trọng lượng 0,6295g; 01 viên nén màu nâu là ma túy thể rắn, loại MDMA, trọng lượng 0,5147g.

Vật chứng vụ án: (i) 01 bịch khăn giấy bên ngoài có ghi chữ “Natural”, 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Hoàng T, điều tra viên Lê Công V và hình dấu công an phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh là ma túy còn lại sau giám định. (ii) 01 điện thoại di động hiệu 0PP0 A3s màu đen, 01 điện thoại đi động hiệu Massel. (iii) 01 xe mô tô Honda Vision, biển số 93E1-257.19

2. Caùo traïng soá 114/CT-VKSQ4 ngaøy 15/11/2022 của V1 kieåm saùt nhaân daân quaän 4, thành phố Hồ Chí Minh truy toá Nguyễn Hoàng T veà toäi “Tàng trữ traùi pheùp chaát ma tuùy” theo điều 249 khoaûn 2 điểm 0 Boä luaät hình söï năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3. Tại phiên tòa: Nguyễn Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức hình phạt từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù đối với Nguyễn Hoàng T và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

4. Nguyễn Hoàng T bào chữa và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

1. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyễn Hoàng T và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

2. Lời khai nhận của Nguyễn Hoàng T phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định Nguyễn Hoàng T ñaõ coù haønh vi tàng trữ trái phép 0,6295g loại Ketamine và 0,5147 g loại MDMA nên phaïm toäi “Tàng trữ traùi pheùp chaát ma tuùy”. Nguyễn Hoàng T đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm ñöôïc qui ñònh tại điều 249 khoản 2 điểm 0 Boä luaät hình söï năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây là haønh vi nguy hieåm cho xaõ hoäi, ñaõ xaâm haïi chính saùch ñoäc quyeàn quaûn lyù cuûa Nhaø Nöôùc veà ma tuùy, xaâm phaïm traät töï an toaøn xaõ hoäi, laø nguyeân nhaân phaùt sinh caùc loaïi toäi phaïm khaùc, laøm laây nhieãm nhieàu caên beänh nguy hieåm và gaây taùc haïi xaáu ñeán ñôøi soáng xaõ hoäi.

Đối với người thanh niên không rõ lý lịch bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng T công an quận D, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh điều tra, xử lý sau.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận 4, thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Hoàng T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, hội đồng xét xử áp dụng điều 249 khoaûn 2 điểm 0 Boä luaät hình söï năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Nguyễn Hoàng T mức án tương xứng với tính chất mức độ phạm tội, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

4. Nguyễn Hoàng T có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên hội đồng xét xử áp dụng điều 51 khoản 1 điểm s Boä luaät hình söï năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho Nguyễn Hoàng T một phần hình phạt theo quy định của pháp luật. Nguyễn Hoàng T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

5. Xử lý vật chứng:

5.1 Đối với, 01 bịch khăn giấy bên ngoài có ghi chữ “Natural”; 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng T, điều tra viên Lê Công V và hình dấu công an phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh là ma túy còn lại sau giám định. Hiện không có giá trị sử dụng, nên hội đồng xét xử tịch thu và tiêu huỷ.

5.2 Đối với, 01 điện thoại di động hiệu 0PP0 A3s màu đen đã qua sử dụng màn hình bị vỡ, 01 điện thoại đi động hiệu M1 đã qua sử dụng là tài sản riêng của Nguyễn Hoàng T, không phải là vật chứng, công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho Nguyễn Hoàng T.

5.3 Đối với, chiếc xe mô tô Honda Vision, biển số 93E1-257.19, qua xác minh chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị H1 cho con là Tô Thị Diệu M mượn, Tô Thị Diệu M lại cho Nguyễn Hoàng T mượn và không biết Nguyễn Hoàng T dùng xe để đi mua ma túy, nên công an quận D, thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại xe cho bà Nguyễn Thị H1 theo biên bản trả lại tài sản ngày 13/10/2022 (Bl 63). Bà Nguyễn Thị H1 hiện không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

6. Nguyễn Hoàng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những nhận định trên, hội đồng xét xử căn cứ:

Thứ nhất: Điều 103 khoản 2 Hiến Pháp năm 2013 quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.

Thứ hai: Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”.

Thứ ba: Điều 9 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”.

Thứ tư: Điều 3 Bộ Q và ứng xử của Thẩm phán Việt Nam số 87/QĐ-HĐTC do Hội đồng tuyển chọn giám sát thẩm phán quốc gia ban hành ngày 04/07/2018 quy định “Trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán tự quyết định trên cơ sở đánh giá của mình về tình tiết vụ việc, chứng cứ và chỉ tuân theo pháp luật; giữ gìn bản lĩnh nghề nghiệp để không bị tác động từ bất kỳ sự can thiệp nào. Thẩm phán phải độc lập với các thành viên của hội đồng xét xử, độc lập với những người tiến hành tố tụng khác, độc lập với các yếu tố tác động từ bên trong nội bộ và bên ngoài tòa án”.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố, Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ traùi pheùp chaát ma tuùy”.

2. Áp dụng đieàu 249 khoaûn 2 điểm 0; điều 51 khoản 1 điểm s Boä luaät hình söï năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt, Nguyễn Hoàng T 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/08/2022.

3. Áp dụng điều 106 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 47 Boä luaät hình söï năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3.1 Tịch thu và tiêu huỷ 01 bịch khăn giấy bên ngoài có ghi chữ “Natural”; 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng T, điều tra viên Lê Công V và hình dấu công an phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh là ma túy còn lại sau giám định. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 18/2023 ngày 06/12/2022 tại kho chi cục thi hành án dân sự quận 4, thành phố Hồ Chí Minh)

3.2 Trả lại cho Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động hiệu 0PP0 A3s màu đen đã qua sử dụng màn hình bị vỡ, 01 điện thoại đi động hiệu Massel đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 18/2023 ngày 06/12/2022 tại kho chi cục thi hành án dân sự quận 4, thành phố Hồ Chí Minh).

4. Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Điều 23 khoản 1 điểm a nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí toà án ngày 30/12/2016. Nguyễn Hoàng T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nguyễn Hoàng T được quyền kháng cáo bản án này trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Bà Nguyễn Thị H1 được quyền kháng cáo bản án này trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhận được bản aùn hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ