vanban.org

Bản án 114/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt chính: Căn cứ Điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;

Về xử lý vật chứng:Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt chính: Căn cứ Điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HSST.
Ngày: 27/10/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tuấn và Bà Vũ Thị Ngọc Phan

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa:

Ông Trần Anh Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2022/ HSST, ngày 07 tháng 10 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Thu H, sinh năm 1998; Tên gọi khác: không;

Nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1979; Có chồng Nguyễn Văn V, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Dương Thị P, sinh ngày 1960 (bà P đã chết)

Trú tại: Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo pháp luật của bị hại:

Ông Đào Ngọc T, sinh năm 1960 (chồng bà P)/ Vắng mặt

Anh Đào Văn N, sinh năm 1988 (con bà P)/ Vắng mặt

Anh Đào Văn B, sinh năm 1999 (con bà P)/ Vắng mặt

Cùng trú tại: Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

-Đại diện theo ủy quyền của Đào Ngọc T, Đào Văn N, Đào Văn B (theo Biên bản họp gia đình ngày 13/4/2022 và giấy ủy quyền ngày 17/5/2022):

Ông Đào Văn T, sinh năm 1965(Có mặt)

Trú tại: Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng:

Ông Lê Văn H, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Trú tại: Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Chị Bùi Thị D, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Trú tại: Xóm X, xã Đồng Liên, TP.Thái Nguyên, T. Thái Nguyên.

Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1963( Vắng mặt).

Trú tại: Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 01/4/2022, Lê Thị Thu H, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 19F1-365.02, di chuyển trên Tỉnh lộ 269E theo hướng xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đi xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình tham gia giao thông, Hường đội mũ bảo hiểm có kính chắn gió phía trước, Khi đi đến đoạn Km7+300 thuộc Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, do lúc này trời mưa, nước mưa dính vào kính mũ bảo hiểm nên tầm nhìn của Hường bị hạn chế. Hường nhìn thấy mờ mờ phía trước khoảng 02 m có người điều khiển xe đạp đang đi cùng chiều (đó là bà Dương Thị P). Do khoảng cách gần, Hường không tránh được nên xe mô tô của Hường đã đâm va vào phần phía sau của xe đạp của bà P làm bà P bị ngã và xe đạp đổ ra đường. Sau đó, bà Phương được mọi người đưa đi cấp cứu.

Hậu quả: bà P được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, sau đó được đưa về nhà riêng, đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/4/2022 thì tử vong.

Sau khi xảy ra tại nạn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành xác định hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi bà Dương Thị P, trưng cầu giám định nguyên chết của bà Dương Thị P.

* Kết quả xác định hiện trường:

Kết quả xác định hiện trường ngày 01/4/2022: Căn cứ lời trình bày và chỉ xác định của chị Lê Thị Thu H, bà Nguyễn Thị K và anh Lê Văn H.

- Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại đường tỉnh lộ 269E, đoạn qua địa phận Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Đoạn đường này là đoạnđường thẳng, trải bê tông cán phẳng, rộng 4m, hai bên đường là lề đường đất, có cỏ mọc.

-Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là bên phải đường theo hướng Phú Bình - Thái Nguyên, có các cột mốc lộ giới sơn đỏ-trắng, lấy mép đường bê tông bên phải đường hướng Phú Bình - Thái Nguyên làm mép chuẩn.

- Lấy cột mốc lộ giới H3/7 làm mốc chuẩn.

- Sử dụng xe mô tô BKS 19F1-365.02 do chị Lê Thị Thu H điều khiển để xác định các vị trí liên quan. - Sử dụng xe đạp của bà Dương Thị P để xác định các vị trí liên quan.

- Tiến hành đo vị trí các dấu vết phương tiện, người theo hình chiếu vuông góc.

- Hiện trường cụ thể:

+ Vị trí 01: Anh Lê Văn H, bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị Thu H đều xác định đây là vị trí bà Dương Thị P nằm tại mép đường bê tông bên phải(mép chuẩn). Lúc này bà P nằm ngửa, đầu quay hướng đi UBND xã Đ, chân quay hướng xã Đồng Liên, vị trí này cách mốc chuẩn về phía nam 22,1m.

+ Vị trí 02: Anh Lê Văn H, bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị Thu H đều xác định đây là vị trí chị Hường đứng khi bà Khang và anh Hiển đến hiện trường,vị trí này tại đường bê tông cách mép chuẩn 0,7m.

+ Vị trí 03: Anh Lê Văn H, bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị Thu H đều xác định đây là vị trí xe mô tô BKS 19F1-365.02 dừng đỗ trên đường bê tông, đầu xe quay phía mép chuẩn, đuôi xe hướng ra đường. Vị trí này cách VT01 là 2,4m, cách VT02 là 0,5m về phía bắc. Tâm bánh trước xe mô tô cách mép chuẩn 0,34m, tâm bánh sau cách mép chuẩn 1,2m.

+ Vị trí 04: Anh Lê Văn H, bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị Thu H đều xác định đây là vị trí xe đạp của bà P dụng sát cột mốc lộ giới, đuôi xe quay hướng Đào Xá, đầu xe quay ngược vào thân xe. Vị trí này tại lề đường bên phải mép chuẩn. Tâm bánh trước cách mép chuẩn 0,52m, tẩm bánh sau cách mép chuẩn 0,44m, tâm bánh trước cách mốc chuẩn 18,9m, cách VT01 là 1,44m.

+ Vị trí 05: Lê Thị Thu H xác định đây là vị trí xe đạp của bà P đổ nghiêng phải trên lê đường bên phải mép chuẩn, dọc theo mép chuẩn. Đuôi xe quay hướng xã Đ, đầu xe quay vào thân xe, tâm bánh trước xe đạp cách mép chuẩn 0,22m, tâm bánh sau cách mép chuẩn 0,37m, tâm bánh sau cách vị trí 01 về phía Bắc1,1m.

Kết quả xác định hiện trường ngày 02/4/2022: Căn cứ lời trình bày của chị Lê Thị Thu H, căn cứ biên bản xác định hiện trưởng ngày 01/4/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P.

- Hiện trường cụ thể:

Vị trí 06: Chị Lê Thị Thu H xác định đây là điểm đâm va giữa xe mô tô, BKS 19F1-365.02 do chị Hường điều khiển và xe đạp do bà P điều khiển. Tại điểm đâm va này phần đầu xe mô tô phía trước bên phải đâm va với đuôi xe đạp. Vị trí này cách vị trí 01 0,95m. Tâm bánh trước xe đạp cách mép chuẩn 0,92m, tâm bánh sau xe đạp cách mép chuẩn 1m. Tâm bánh trước xe mô tô cách mép chuẩn 1,1m, tâm bánh sau xe mô tô cách mép chuẩn 1,2m.Vị trí 06 đo vào mép chuẩn được 1,05m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại: RSX, màu sơn:đỏ - đen, biển kiểm soát 19F1-365.02, xe cũ đã qua sử dụng:Mặt ngoài phía trước cánh yếm bên phải xe mô tô có dấu vết vỡ nhựa, kích thước (04x0,5)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đường 38,5cm, tâm dấu vết này cách mép dưới cánh yếm bên phải 20cm; Mặt trong cánh yếm bên phải (phần nhựa màu đen) có dấu vết nứt vỡ nhựa trong diện kích thước (12x4)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đường 34cm.

- Xe đạp màu xanh, xe cũ đã qua sử dụng, phần khung xe có dấu hiệu hoen gỉ:Đầu tay lái bên trái, bên trong ống kim loại 4 21cm có bùn đất; Chắn bùn bánh sau xe đạp bằng kim loại, mặt ngoài có vết mài trượt kim loại trong diện (3x5)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đường 33cm. Phần đuôi chắn bùn phíasau bị cong vênh theo chiều từ sau ra trước, từ phải qua trái, trong diện 9cm, tính từ điểm cuối của chắn bùn trên.

* Kết quả khám nghiệm tử thi Dương Thị P:

- Dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng đinh chẩm bên phải, cách gốc tai phải 6cm có khối xưng nề KT (6 x5)cm; Mũi, miếng có nhiều dịch chảy ra; Vùng ngực trái, cách trên núm vú trái 01cm có vết bầm tím KT (4 x 3)cm; Vùng ngực phải sát núm vú phải có vết bầm tím KT (4 x 2,5)cm; Mặt ngoài cánh tay phải có vết bầm tím kích thước (1 x 1,5)cm; Mặt trong cẳng chân trái có vết bầm tím KT (3,5 x 3)cm.

- Mổ tử thi:Đụng dập tụ máu trong nhu mô não thùy chẩm và thùy trán bên phải; Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải; Xuất huyết dưới nhện; Võ xương chẩm.

* Kết quả giám định giám định pháp y về tử thi Dương Thị P:

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 632/KL-KTHS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận nguyên nhân chết của Dương Thị P, sinh năm 1960, trú tại: xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên như sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Vỡ xương chẩm, đụng dập máu trong nhu mô não thùy chẩm và thùy trán bên phải, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải, xuất huyết dưới nhện.

- Nguyên nhân chết: Dương Thị P bị chấn thương sọ não kín: Vỡ xương chẩm, tụ máu dưới màng cứng, đụng dập tụ máu trong nhu mô não, xuất huyết dưới nhện, tổn thương thần kinh trung ương không hồi phục dẫn đến chết.

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, loại: Wave RSX FI, màu sơn: đỏ-đen, biển kiểm soát: 19F1-365.02, số khung: RLHJA3849MY117125, số máy: JA52E0256754, xe cũ đã qua sử dụng;

- 01 xe đạp hai bánh, màu sơn: xanh, cũ đã qua sử dụng;

- 01 “Chứng nhận đăng ký” xe mô tô, xe gắn máy số 19001276 do Công an huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ cấp cho Lê Thị Thu H ngày 26/4/2021, biển số đăng ký 19F1-365.02;

- 01 thùng cát tông, dán niêm phong, ghi ký hiệu “M”. Niêm phong mũ bảo hiểm màu đỏ do Lê Thị Thu H giao nộp.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P chờ xử lý.

Về phần dân sự của vụ án: Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Lê Thị Thu H đã bồi thường cho ông Đào Văn T (đại diện gia đình bị hại) số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng). Đến nay, ông Tráng không có yều cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 113/CT - VKSPB, ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lê Thị Thu H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Thu H khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại khai: nhất trí với nội dung truy tố của Viện kiểm sát huyện P; Gia đình bị hại đã nhận số tiền 80.000.000 đ (tám mươi triệu đồng) do bị cáo bồi thường và không còn yêu cầu gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Thị Thu H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản2 Điều 260; điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng;

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong, đề nghị không xem xét giải quyết về trách nhiệm phần dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Hường: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu sơn đỏ, đen BKS 19F1 – 365.02 có số khung RLHJA3849MY117125, số máy JA52E0256754, dung tích xi lanh 109 đăng ký lần đầu 26/4/2021; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 19001276 mang tên Lê Thị Thu H do Công an huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 26/4/2021, biển số đăng ký 19F1 - 365.02; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đã qua sử dụng.

Trả lại cho gia đình bị hại 01 xe đạp hai bánh màu sơn xanh, xe cũ đã qua sủ dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án. Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại nhất trí, không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

.Về hành vi, quyết định tố tụngcủa Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an huyện P; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Đối với việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện theo pháp luật của bị hại và những người làm chứng, Hội đồng xét xử thấy những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người đại diện theo pháp luật của bị hại và nhữngngười làm chứng trong vụ án.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa thấy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 01/4/2022, đoạn Km7 +300 của đường Tỉnh lộ 269E thuộc Xóm D, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Lê Thị Thu H (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 19F1-365.02 không chấp hành quy định luật giao thông đường bộ, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trước mình, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi trời mưa nên phần đầu phía trước xe mô tô của Hường đã đâm va vào phần đuôi xe đạp đi phía trước cùng chiều do bà Dương Thị P điều khiển, hậu quả bà Dương Thị P bị tử vong. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan, thống nhất với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai những người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Bệnh án của người bị hại cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.Hành vi của bị cáo Hườngđã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008; khoản 11 Điều 5Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải. Nội dung các điều luật quy định như sau

Luật giao thông đường bộ quy định:

Điều 12. Tốc độ và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe… phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trước của mình…

Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, quy định:

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ dể có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

…

6. Trời mưa…

…”

Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự;

Nội dung Điều luật quy định như sau:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”:

a) Làm chết người

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định.

…”

. Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo:

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về an toàn giao thông vận tải đường bộ hậu quảlàm chết một người, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Xét cần có mức án tương xứng đối với bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt: Xét bị cáo xuất thân từ gia đình lương thiện, hiện là lao động chính trong gia đình, có nhân thân tốt, bị cáo đang nuôi con nhỏ 05 tháng tuổi, việc va chạm giao thông là ngoài ý muốn. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáo khai báo rất thành khẩn thực sự ăn năn hối cải về việc làm của mình, đã tự nguyện bồi thường để khắc phục hoàn toàn hậu quả cho gia đình bị hại; Khi phạm tội bị cáo đang có thai; đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ các phân tích trên thấy có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về biện pháp ngăn chặn: Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Thị Thu H, buộc cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 27 tháng 10 năm 2022 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

.Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình người bị hại số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) và gia đình người bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm.

.Về xử lý vật chứng:

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu sơn đỏ,đen BKS 19F1-365.02 có số khung RLHJA3849MY117125, số máy JA52E0256754, dung tích xi lanh 109 đăng ký lần đầu 26/4/2021; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 19001276 mang tên Lê Thị Thu H; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đã qua sử dụng. Đây là những tài sản hợp pháp của bị cáo, hiện còn giá trị sử dụng, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường cho đại diện gia đình bị hại nên hoàn trả cho bị cáo tiếp tục sử dụng.

Trả lại cho gia đình bị hại 01 xe đạp hai bánh màu sơn xanh, xe cũ đã qua sủ dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ, pháp luật áp dụng:

-Về hình phạt chính: Căn cứ Điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;

- Về xử lý vật chứng:Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Lê Thị Thu H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 27 tháng 10 năm 2022).

- Giao bị cáo Lê Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyêngiám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 93 Luật thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (bị cáo Lê Thị Thu H ) nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Thị Thu H buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 27/10/2022 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án phạt tù cho hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Lê Thị Thu H đã bồi thường xong cho gia đình người bị hại Dương Thị P số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) và gia đình người bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm.

4.Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Trả lại cho bị cáo Hường: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE RSX FI màu sơn đỏ, đen biển kiểm soát 19F1-365.02, có đủ gương chiếu hậu cả hai bên, cánh yếm bên phải xe bị vỡ, xe bị trầy xước, số khung: RLHJA3849MY117125, số máy: JA52E0256754, dung tích xi lanh 109, đăng ký lần đầu 26/4/2021, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng và các bộ phận bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng, (không kèm theo chìa khóa xe); 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số: 19001276 mang tên Lê Thị Thu H, do Công an huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 26/4/2021 biển số đăng ký 19F1-365.02; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đã qua sử dụng của Lê Thị Thu H được niêm phong dán kín có dấu đỏ ký hiệu M ngoài thùng có ghi mũ bảo hiểm màu đỏ đã qua sử dụng do Lê Thị Thu H giao nộp.

Trả lại cho đại diện gia đình bị hại 01 xe đạp hai bánh màu sơn xanh, xe cũ đã qua sử dụng.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Thu H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước.

6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt tại phiên tòa; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt tại phiên tòa.

Cỡ chữ