vanban.org

Bản án 114/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L (tên gọi khác: Trần Xuân L) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L (Trần Xuân L) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn L (tên gọi khác: Trần Xuân L) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HS-ST
Ngày: 23 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Kim Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa

Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Doanh và ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.

- Cán bộ hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh.

2. Ông Hoàng Đắc Thắng - Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh.

3. Ông Trần Văn Lượng, ông Phạm Đức Trung, ông Nguyễn Văn Chính - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2022/TLST-HS, ngày 09/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn L (tên gọi khác: Trần Xuân L), sinh năm 1987 tại L, C, Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân S (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); tiền sự: Không;

Tiền án:

+ Bản án số 54/2010/HSST ngày 20/9/2010, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn L 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (trị giá tài sản 2.200.000đ). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2011;

+ Bản án số 72/2011/HSST ngày 29/11/2011, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn L 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (trị giá tài sản 200.000đ). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/6/2012;

+ Bản án số 97/2012/HSST ngày 28/12/2012, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn L 13 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (trị giá tài sản 200.000đ). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/12/2013;

+ Bản án số 24/2016/HSPT ngày 10/3/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn L 30 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2018;

+ Bản án số 62/2019/HSST ngày 12/7/2019, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn L 33 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (trị giá tài sản 4.200.000đ). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2021;

Nhân thân:

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-UB ngày 07/11/2003 của Ủy ban nhân dân xã L xử phạt cảnh cáo đối với Trần Văn L về hành vi "Trộm cắp tài sản";

+ Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 07/11/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Trần Văn L thời hạn 06 tháng về hành vi "Trộm cắp tài sản công dân" và "Đánh nhau";

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-UB ngày 29/12/2003 của Ủy ban nhân dân xã L xử phạt cảnh cáo đối với Trần Văn L về hành vi "Trộm cắp tài sản";

+ Bản án số 27/2004/HSST ngày 21/9/2004, Tòa án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn L 42 tháng tù về tội "Cướp tài sản" và "Trộm cắp tài" (trị giá tài sản 12.00.000đ). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2007;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/9/2022, đến ngày 09/9/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Khu dân cư số 5 T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 07/9/2022, Trần Văn L (là người đã bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích) điều khiển xe máy Honda Wave RSX màu sơn đen - trắng, gắn BKS: 34C1-567.79 (xe của Linh) đi từ khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh đến huyện L, tỉnh Bắc Ninh với mục đích xem gia đình nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài. Khi đi đến thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, L thấy nhà ông Trần Văn Đ cổng và cửa nhà mở, không thấy có người nên Linh dựng xe máy ở cổng rồi đi bộ thẳng vào trong nhà. Nhìn xung quanh thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu xanh bên trong lắp 02 sim Viettel của ông Đ đang cắm sạc để trên ghế uống nước, L tiến lại, dùng tay phải lấy điện thoại cho vào túi quần rồi đi ra ngoài. Khi L ra đến sân thì ông Đ nhìn thấy và hỏi “Mày đi đâu đấy”. L trả lời “cháu đi nhầm nhà” rồi chạy ra chỗ dựng xe nổ máy bỏ chạy ra đường Quốc lộ 17. Khi ông Đ vào trong nhà không thấy điện thoại liền chạy ra đuổi theo L nhưng không kịp. Trên đường đi, L móc điện thoại vừa trộm cắp được cho vào ba lô và theo hướng cầu B về Hải Dương. Khi đến chân cầu B thuộc huyện Q, tỉnh Bắc Ninh do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng nên tại đây L gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch, L hỏi “Có hàng trắng bán không” người này trả lời “mua bao nhiêu” thì L nói “bán cho 500.000đ”. Sau đó, L đưa cho người đàn ông này 500.000đ và nhận lại một gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục, màu trắng là ma túy loại Heroine. L cầm gói ma túy cho vào ngăn phía ngoài ba lô màu đen rồi đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày khi Trần Văn L đi đến khu dân cư số 5 - T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện, bắt quả tang. Lực lượng Công an đã thu giữ tại ngăn ngoài ba lô màu đen của L một gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu xanh và chiếc xe máy Honda Wave RSX màu sơn đen - trắng, gắn BKS: 34C1-567.79. Trần Văn L khai nhận gói giấy màu trắng trong chứa chất bột dạng cục màu trắng là ma túy, L tàng trữ để sử dụng cho bản thân còn 03 chiếc điện thoại là do L vừa trộm cắp được trên địa bàn huyện L và huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Tại bản kết luận giám định số: 499/KL-KTHS ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy màu trắng được niêm phong trong phong bì, gửi giám định khối lượng là: 0,414g là ma túy, loại Heroine.

Tại Bản kết luận định giá tài sản - Ủy ban nhân dân thành phố Chí Linh thể hiện: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A5S, vỏ máy màu xanh, mua mới tháng 06/2020 với giá 4.000.000đ tại thời điểm ngày 07/9/2022 có giá trị 1.500.000đ; chi phí làm lại 02 sim điện thoại Viettel là 50.000đ. Tổng giá trị tài sản Trần Văn L trộm cắp vào ngày 07/9/2022 là 1.550.000đ.

Tại bản kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 20/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương đối với chiếc xe máy Honda Wave RSX màu sơn đen - trắng, gắn BKS: 34C1-567.79 thu giữ của Trần Văn L thể hiện:

+ Bề mặt kim loại nơi đóng số ở khung xe bị oxy hóa làm mờ một số ký tự nguyên thủy của xe, bằng mắt thường khó đọc.

+ Hàng chữ số nguyên thủy của xe là: RLHHC12338Y463108.

+ Hàng chữ số: HC12E-2215371 đóng chìm ở thân máy là hàng chữ số nguyên thủy do nhà sản xuất đóng ra.

Tại bản kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 20/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Biển số xe mô tô 34C1-567.79 gửi giám định là biển giả.

Tại cáo trạng số 101/CT-VKS-CL ngày 08/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Trần Văn L thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Văn L 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáp Trần Văn L 05 năm 09 tháng đến 06 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt cho cả hai tội, buộc bị cáo Trần Văn L phải chấp hành chung là 06 năm 06 tháng đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 07/9/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 498/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP Chí Linh, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 1336 gày 07/9/2022, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai cảu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa 0,377 gam ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 ba lô bằng vải màu đen, kích thước (25x30x50)cm, có quai đeo, đã qua sử dụng; 01 chiếc biển số xe máy 34C1-56779. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu sơn đen - trắng, số khung RLHHC1238Y463108; số máy HC12E-2215371. Phần vỏ yếm bị nứt, trầy xước, xe không gương, đã qua sử dụng. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Xuân L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thựcs hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo Trần Văn L tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 07/9/2022, tại nhà ông Trần Viết Định ở thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn L (là người đã bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích) đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu xanh, bên trong lắp 02 sim Viettel trị giá: 1.550.000đ. Tiếp đến, hồi 17 giờ 20 phút ngày 07/9/2022, tại khu dân cư số 5 - T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Trần Văn L có hành vi cất giấu trái phép 0,414g ma túy, loại Heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt quả tang và thu giữ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ các hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người đã bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích và đã tái phạm nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do vậy, các hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo không có nghề nghiệp, 04 lần phạm tội bị kết án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội “trộm cắp tài sản”, do vậy, đối với tội "Trộm cắp tài sản" bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai nhận tội; có bố đẻ là ông Trần Xuân S, được Bộ trưởng Bộ quốc phòng tặng Bằng khen; Bị cáo trộm cắp tài sản có trị giá tài sản là 1.550.000đ và tàng trữ khối lượng ma túy là 0,414g, thấp hơn định lượng quy định tại khung hình phạt bị truy tố, xét xử, thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Viết Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự. Do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,414g ma túy, loại Heroine. Sau khi giám định, cơ quan giám định trả lại 01 phong bì kích thước (19,3x12,8)cm, được niêm phong có 03 dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương và chữ ký niêm phong bên trong chứa 0,377g ma túy loại Heroine gói bằng giấy trắng, bên ngoài là túi nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Heroine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; giấy trắng, túi nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 ba lô bằng vải màu đen, kích thước (25x30x50)cm, có quai đeo của bị cáo. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với chiếc xe máy Honda Wave RSX màu sơn đen - trắng thu giữ của Trần Văn L, L khai là xe của L mua của một người tên là Toan không rõ nhân thân, lý lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí Linh xác minh thông tin chủ sở hữu theo số khung, số máy nguyên thủy (đã được giám định) xác định không có thông tin chủ sở hữu, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Công an thành phố Chí Linh đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do vậy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc biển số xe máy 34C1-56779, xác định là biển giả, không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, vỏ máy màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, vỏ máy màu trắng, loại 64GB, số IMEI: 356739083534274. Quá trình điều tra xác định là tài sản do L trộm cắp tại thôn H, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 07/9/2022. Vụ việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G, tỉnh Bắc Ninh thụ lý điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí Linh đã bàn giao lại 02 chiếc điện thoại trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên là Toan bán xe máy cho L và người thanh niên bán ma túy cho Trần Văn L không rõ nhân thân, lý lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội "Trộm cắp tài sản";

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy";

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn L (tên gọi khác: Trần Xuân L) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 07/9/2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 498/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP Chí Linh, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 1336 gày 07/9/2022, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai cảu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa 0,377 gam ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định;

- 01 ba lô bằng vải màu đen, kích thước (25x30x50)cm, có quai đeo, đã qua sử dụng;

- 01 chiếc biển số xe máy 34C1-56779.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu sơn đen - trắng, số khung RLHHC1238Y463108; số máy HC12E-2215371. Phần vỏ yếm bị nứt, trầy xước, xe không gương, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ