vanban.org

Bản án 114/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T 08 (tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 4 năm 2022.

Xử phạt bị cáo Thôi Hiến P 07 (bảy) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2022. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 03 (ba) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 4 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Hữu Tài và đồng phạm phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T 08 (tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 4 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HS-ST
Ngày: 12-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hữu Trọng

Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 137/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 156/2022/HSST-QĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Hữu T, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1995 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 307/52 đường C, Phường H, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 730/98/25 đường Q, Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn L; con bà: Trương Thị N; Có vợ tên: Hồ Thị Ngọc Hoài T; có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/01/2013 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật T sản”, Đỗ Hữu T có kháng cáo, ngày 09/5/2013 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử Pc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm đã xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật T sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2022 (có mặt tại phiên tòa).

2. Thôi Hiến P, sinh ngày 18 tháng 11 năm 1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 138/31/8 đường Q, Phường N, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thôi Xiêu A; con bà: Châu Mỹ H; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2022 (có mặt tại phiên tòa).

3. Trần Ngọc H, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2000 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 254/98/28B đường C, Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn N; con bà: Trần Thị Yến L; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2022 (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Thôi Hiến P: Luật sư Nguyễn Minh Thường,

Công ty Luật TNHH Tân Kim Hải, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 102D1 Đường 49, Khu phố 7, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Liêu C, sinh năm 1967; Nơi cư trú: 408C đường T, Phường N,

Quận N, Thành phồ Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Ông Châu Chí N, sinh năm 1974; Nơi cư trú: 117/5A đường Đ, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc H, Đỗ Hữu T và Thôi Hiến P có mối quan hệ bạn bè quen biết nhau từ năm 2019. Khoảng tháng 8 năm 2021, H biết T có bán ma túy nên mua để sử dụng.

Ngày 20/4/2022 do không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định mua bán ma túy để kiếm lời. Thông qua mạng xã hội Facebook H quen biết với nam thanh niên tên Thu. Thu đặt mua ma túy từ H với số lượng 10 viên thuốc lắc và 01 chấm ma túy khay thì H đồng ý. Do biết T bán ma túy nên H gọi điện liên lạc và nói với T bán cho khách của H số lượng ma túy như trên. H và T thỏa thuận, T sẽ trả tiền công (hoa hồng) cho H 200.000 đồng khi bán được ma túy thì T đồng ý và báo giá cho H cụ thể 01 viên thuốc lắc giá 280.000 đồng, 01 chấm ma túy khay giá 1.200.000 đồng để H báo lại cho khách. H báo lại giá bán ma túy cho Thu, Thu đồng ý mua. Thu hẹn sẽ nhận ma túy của H vào lúc 13 giờ 30 Pt ngày 21/4/2022 tại trước số 157 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5. H báo lại cho T. Ngày 21/4/2022 T cùng H đi giao ma túy. T trực tiếp đến bán ma túy với Thu lấy tiền xong sẽ trả 200.000 đồng tiền công giới thiệu cho H.

Khoảng 9 giờ ngày 21/4/2022, T điều khiển xe gắn máy biển số 59M1 – 61575 đến khu Trung Sơn thuộc xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh tìm gặp thanh niên tên Bình (không rõ lai lịch). T mua từ Bình số lượng ma túy gồm: 10 viên thuốc lắc giá 180.000 đồng/1 viên, 01 chấm ma túy khay giá 800.000 đồng. Tổng số tiền là 2.600.000 đồng với mục đích bán lại cho khách mua của H và 02 gói ma túy đá với tổng số tiền là 800.000 đồng với mục đích bán lại khi có khách mua.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, Thôi Hiến P đến nhà ở của T tại số 730/98/25 đường Q, Phường C, quận Tân Bình để T đưa cho P 10 viên thuốc lắc cùng 01 chấm ma túy khay để trong cùng 01 túi xốp trắng và 02 gói ma túy đá mỗi gói để trong 01 bao thư, T nói là ma túy và nói P cất giữ khi có người mua T sẽ liên lạc với P để cho địa chỉ P mang đến đưa ma túy cho T. T sẽ trực tiếp mua bán giao dịch với khách. P cất giữ số ma túy vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi về. Còn lại 02 gói ma túy đá đã mua trên T cất giữ trong tủ quần áo của T tại tầng 1 nơi ở của T.

Đến khoảng 12 giờ 30 Pt ngày 21/4/2022, H liên lạc nói T đi bán ma túy cho Thu, T điều khiển xe gắn máy biển số 59M1 – 61575 đến chở H từ quận Tân Bình để sang địa chỉ số 157 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5. Đến nơi là khoảng 13 giờ 30 Pt cùng ngày T liên lạc với P kêu P đem ma túy đến trước số 157 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5 để T bán cho khách. Trong lúc T, H đợi P và Thu đến mua bán ma túy thì bị Tổ Công tác Công an Quận 5 kiểm tra, mời về trụ sở Công an Phường 2, Quận 5 làm việc. Tại Công an Phường 2, Quận 5 T, H khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Qua truy xét vào lúc 15 giờ 10 Pt ngày 21/4/2022, Tổ trinh sát thuộc Đội Cảnh sát điều tra về ma túy Công an Quận 5 kết hợp Công an Phường 3, Quận 5 bắt quả tang Thôi Hiến P đang dừng đậu xe gắn máy biển số 59H1- 77214 tại trước đầu hẽm số 138 Nguyễn Trãi, Phường 3, Quận 5, bên trong túi quần sau bên phải của P đang mặc gồm: 01 gói nylon chứa 10 viên nén màu xanh, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon xốp màu trắng bên trong 02 gói nylon chứa tinh thể không màu đựng trong 02 bao bao thư. Tất cả P khai đều là ma túy để giao lại cho T để bán cho khách. P mang ma túy đến cho T chưa kịp giao thì bị bắt giữ như trên.

Thôi Hiến P còn khai nhận trước đó với phương thức tương tự (T đưa P cất giữ ma túy, khi có người mua T cho địa chỉ P mang ma túy đến đưa cho T, T trực tiếp mua bán) P cùng T đã bán ma túy cho khách mua được 02 lần. Lần 1: Khoảng tháng 2/2022 tại trước hẻm 86 Âu Cơ, Phường 9, quận Tân Bình bán 01 gói ma túy đá giá 300.000 đồng; Lần 2: Khoảng đầu giữa tháng 4/2022 tại trước hẻm số 654 Lạc Long Quân, Phường 9, quận Tân Bình bán 01 gói ma túy đá giá 400.000 đồng. Khi bán được ma túy thì T cho P ma túy để sử dụng chứ không trả tiền công và T đã cho P ma túy đá được 03 lần để P sử dụng.

Qua xét nghiệm nhanh ma túy, T, H và P đều cho kết quả dương tính với ma túy.

Khám xét chỗ ở của Đỗ Hữu T tại tầng 1 nhà ở 730/98/25 đường Q, Phường C, quận Tân Bình, phát hiện và thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. Qua giám định có khối lượng là 0,1840 gam là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine. T khai số ma túy mục đích cất giữ nếu có ai mua thì T bán lại kiếm lời. 01 (một) hộp tròn có chữ Rocket 1h (đựng gói nylon chứa tinh thể không màu).

Khám xét chổ ở của Thôi Hiến P tại nhà ở số 138/31/8 đường Q, Phường N, Quận M, không phát hiện và thu giữ gì.

Vật chứng thu giữ: 02 (hai) phong bì thư; 01 (một) túi xốp màu trắng; 01 (một) hộp tròn ghi chữ Rocket 1h; 01 (một) xe gắn máy, biển số 59M1–615.75, số khung: RLSBG41J0E0100736, số máy: G427100669; 01 (một) xe gắn máy, biển số 59H1-772.14, số khung: C100MN0147965, số máy: C100MNE0147965; 01 (một) điện thoại di động ghi chữ OPPO, màu hồng (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) điện thoại di động ghi chữ Iphone, màu vàng (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) điện thoại di động ghi chữ Samsung, màu đen (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Hữu T và hình dấu Công an Phường 9, quận Tân Bình (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam), loại Methamphetamine; 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thôi Hiến P và hình dấu Công an Phường 3, Quận 5, bên trong có: Gói 1: 10 (mười) viên nén màu xanh trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam), loại MDMA; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine; Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5890g (không phẩy năm tám chín không gam) loại Methamphetamine; Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2773g (không phẩy hai bảy bảy ba gam) loại Methamphetamine (số ma túy còn lại sau giám định được gói trong 04 (bốn) gói niêm phong số 451/2022/Q5 (gói 1), 451/2022/Q5 (gói 2), 451/2022/Q5 (gói 3), 455/2022/Q5. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ Trần Đình Văn).

Tại bản Kết luận giám định số 2395/KLGĐ-H ngày 29/4/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Hữu T và hình dấu Công an Phường 9, quận Tân Bình (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam), loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 2372/KL-KTHS ngày 29/4/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thôi Hiến P và hình dấu Công an Phường 3, Quận 5, bên trong có:

Gói 1: 10 (mười) viên nén màu xanh trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam), loại MDMA; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine.

Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5890g (không phẩy năm tám chín không gam) loại Methamphetamine.

Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2773g (không phẩy hai bảy bảy ba gam) loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 92/CT-VKS ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Hữu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b và p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Thôi Hiến P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Trần Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đỗ Hữu T, Thôi Hiến P, Trần Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b và p Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T với mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù;

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Thôi Hiến P với mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù;

Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Ngọc H với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Thôi Hiến P trình bày: Thống nhất với Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã truy tố bị cáo Thôi Hiến P. Bị cáo P là người dân tộc Hoa, cha, mẹ mất sớm, thiếu hiểu biết pháp luật. Bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội chưa gây thiệt hại; phạm tội hợp tác với cơ quan điều tra; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 50, Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo P dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến tranh luận: Đối với các tình tiết giảm nhẹ mà Luật sư bào chữa cho bị cáo P trình bày như: phạm tội chưa gây thiệt hại và phạm tội tích cự hợp tác với cơ quan điều tra là chưa có cơ sở xem xét. Còn đối với các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự và hoàn cảnh điều kiện khó khăn của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét; về mức hình phạt Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 vẫn giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.

Bị cáo Đỗ Hữu T không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và không nói lời nói sau cùng.

Bị cáo Thôi Hiến Phí không có ý kiến bào chữa và bổ sung bào chữa của Luật sư, không tranh luận và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Trần Ngọc H không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra, không có ý kiến tranh luận nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, các bị cáo Đỗ Hữu T, Thôi Hiến P, Trần Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, các bị cáo Đỗ Hữu T, Thôi Hiến P, Trần Ngọc H đã có hành vi mua chất ma túy nhằm bán lại cho người khác để hưởng khoản tiền chênh lệch và bị Cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ của P các chất ma túy với khối lượng 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam) loại MDMA, 1,0503g (một phẩy không năm không ba gam) loại Methamphetamine và 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine; khám xét thu giữ tại nhà của bị cáo T chất ma túy có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam) loại Methamphetamine.

Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy mà bị cáo Đỗ Hữu T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là 1,2343 g (một phẩy hai ba bốn ba gam) loại Methamphetamine, 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam) loại MDMA và 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine.

Tổng khối lượng các chất ma túy mà bị cáo Thôi Hiến P phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là 1,0503g (một phẩy không năm không ba gam) loại Methamphetamine, 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam) loại MDMA và 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine.

Tổng khối lượng các chất ma túy mà bị cáo Trần Ngọc H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam) loại MDMA và 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine.

Ngoài ra, bị cáo Đỗ Hữu T và Thôi Hiến P còn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 02 lần, lần thứ nhất vào khoảng tháng 2 năm 2022 tại trước hẻm 86 Âu Cơ, Phường 9, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; lần thứ 2 vào khoảng tháng 4 năm 2022 tại trước hẻm số 654 Lạc Long Quân, Phường 9, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Hữu T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” và phạm tội “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng các chất ma túy đó có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”, được quy định tại điểm b, p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo Thôi Hiến P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo Trần Ngọc H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý mua bán chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi.

Xét đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, bị cáo T là người trực tiếp mua bán các chất ma túy, bị cáo P có vai trò giúp sức, giúp cho bị cáo T giao ma túy đế bán cho người khác khi T yêu cầu và được T cho ma túy sử dụng. Bị cáo H có vai trò giúp sức, khi có người hỏi H mua ma túy thì H gọi cho T để bán ma túy và mỗi lần bán được ma túy T sẽ cho H tiền để sử dụng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo T và H nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu nên cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để các bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên xét các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Thôi Hiến P nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng. Riêng các tình tiết giảm nhẹ như: phạm tội chưa gây thiệt hại và phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra là không phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không có xem xét áp dụng.

Đối với đối tượng tên Bình bán ma túy cho bị cáo T và tên Thu là người hỏi mua ma túy từ bị cáo H, hiện không rõ lai lịch, khi nào Cơ quan điều tra xác định được lai lịch, địa chỉ sẽ xem xét xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

02 (hai) phong bì thư; 01 (một) túi xốp màu trắng; 01 (một) hộp tròn ghi chữ Rocket 1h; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Hữu T và hình dấu Công an Phường 9, quận Tân Bình (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam), loại Methamphetamine; 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thôi Hiến P và hình dấu Công an Phường 3, Quận 5, bên trong có: Gói 1: 10 (mười) viên nén màu xanh trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam), loại MDMA; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine; Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5890g (không phẩy năm tám chín không gam) loại Methamphetamine; Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2773g (không phẩy hai bảy bảy ba gam) loại Methamphetamine (số ma túy còn lại sau giám định được gói trong 04 (bốn) gói niêm phong số 451/2022/Q5 (gói 1), 451/2022/Q5 (gói 2), 451/2022/Q5 (gói 3), 455/2022/Q5. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ Trần Đình Văn). Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động ghi chữ OPPO, màu hồng (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) điện thoại di động ghi chữ Iphone, màu vàng (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) điện thoại di động ghi chữ Samsung, màu đen (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei). Xét các chiếc điện thoại trên là T sản của các bị cáo, sử dụng liên lạc để mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

01 (một) xe gắn máy, biển số 59M1–615.75, số khung: RLSBG41J0E0100736, số máy: G427100669 do Đỗ Hữu T đứng tên chủ sở hữu, bị cáo T sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

01 (một) xe gắn máy, biển số 59H1-772.14, số khung: C100MN0147965, số máy: C100MNE0147965 do ông Châu Chí Nguyên đứng tên chủ sở hữu, ông Nguyên đã bán lại cho ông Liêu Cường, ông Cường giao xe cho bị cáo P đi giao hàng cho tiệm tạp hóa, không biết bị cáo P sử dụng đi giao ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông Liêu Cường.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, p Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T 08 (tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 4 năm 2022.

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Thôi Hiến P 07 (bảy) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2022.

Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 03 (ba) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 4 năm 2022.

Căn cứ điểm a, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2; điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì thư; 01 (một) túi xốp màu trắng; 01 (một) hộp tròn ghi chữ Rocket 1h; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Hữu T và hình dấu Công an Phường 9, quận Tân Bình (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam), loại Methamphetamine; 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thôi Hiến P và hình dấu Công an Phường 3, Quận 5, bên trong có: Gói 1: 10 (mười) viên nén màu xanh trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,9570g (ba phẩy chín năm bảy không gam), loại MDMA; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5162g (không phẩy năm một sáu hai gam) loại Ketamine; Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5890g (không phẩy năm tám chín không gam) loại Methamphetamine; Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2773g (không phẩy hai bảy bảy ba gam) loại Methamphetamine (số ma túy còn lại sau giám định được gói trong 04 (bốn) gói niêm phong số 451/2022/Q5 (gói 1), 451/2022/Q5 (gói 2), 451/2022/Q5 (gói 3), 455/2022/Q5. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ Trần Đình Văn).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động ghi chữ OPPO, màu hồng (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) điện thoại di động ghi chữ Iphone, màu vàng (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) điện thoại di động ghi chữ Samsung, màu đen (điện thoại tắt nguồn không kiểm tra được Imei); 01 (một) xe gắn máy, biển số 59M1–615.75, số khung: RLSBG41J0E0100736, số máy: G427100669.

Trả lại cho ông Liêu C: 01 (một) xe gắn máy, biển số 59H1-772.14, số khung: C100MN0147965, số máy: C100MNE0147965.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ