- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2022/HS-ST Ngày: 16/11/2022 |
NHÂN D
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H,
TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn M
2. Ông Nguyễn T S
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng H - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2022/TLST-HS ngày 11/10/2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/QĐXXST-HS ngày 02/11/2022, đối với bị cáo:
HUỲNH NGỌC B - sinh năm 1997 tại B Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn 6, xã H, huyện H, tỉnh B; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Ngọc T và bà Bùi Thị T; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ
- Công an huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/6/2022 khi Huỳnh Ngọc B ở thôn 6, xã H, huyện H đang ở nhà thì có Lý Thành D (anh rể B) đến nhà gặp và nhờ B đi xuống khu vực Lại An Viên thuộc xã H, huyện H để gặp một người đàn ông tên "Long" (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua giúp 200.000đồng ma túy đá về để sử dụng thì B đồng ý. Sau đó D đưa cho B 200.000đồng (theo lời khai của B), B điều khiển xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh đen, không bửng chắn gió, biển số 86F6-3857 (xe của ông Bùi Văn B là cậu ruột của B, ông B đã chết để lại cho B sử dụng) đi đến khu vực Lại An Viên, đoạn trên đường Quốc lộ 1A thì gặp một người đàn ông tên "L", người này đưa cho B 01 cái khẩu trang màu trắng, buộc hai đầu, B biết trong đó có chứa ma túy nên nhận và đưa cho người đàn ông này số tiền 200.000đồng, B cất cái khẩu trang bên trong có chứa ma tuý vào trong túi quần phía trước, bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về lại nhà mình. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu vực đèn xanh đèn đỏ thuộc khu phố P, thị trấn P thì B bị Tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an thị trấn P, huyện H tuần tra trên quốc lộ 1A thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu B dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra Tổ công tác phát hiện trong túi quần bên phải, phía trước của B có 01 (một) khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín, kích thước (2,5 x 01)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) cái ống thủy tinh được uốn cong một đầu, trên phần đầu uốn cong thành 01 (một) hình tròn. B khai nhận chất tinh thể màu trắng đó là ma túy đá. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B và thu giữ các vật chứng gồm: 01 (một) khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín, kích thước (2,5x01)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) cái ống thủy tinh được uốn cong thành 01 (một) hình tròn; 01 (một) xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh đen, không bửng chắn gió, biển số 86F6 – 3857 đồng thời đưa B về trụ sở để làm việc. Tại đây, B khai nhận chất tinh thể màu trắng bị thu giữ trên là ma tuý đá do B đi mua giúp cho anh rể mình tên D về nhằm mục đích sử dụng. Tuy nhiên, quá trình điều tra đến nay Lý Thành D không có mặt tại địa phương, D đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không biết. Tại Kết luận giám định số: 653/KLGĐ-PC09 ngày 23/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Thuận kết luận: … II. Đối tượng giám định: 01 Phong bì màu trắng được niêm phong còn nguyên vẹn, có các chữ ký ghi tên: Huỳnh Ngọc N, Nguyễn T N, Trần T D, Đào Tấn T, Huỳnh Ngọc B và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn P. Trong phong bì có 01 gói nylon được hàn kín, bên trong gói giấy chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M) ….. V. Kết luận về đối tượng giám định: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1591 gam; là Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Gói nylon đã nêu ở mục II và 0,0759 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 653, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 (một) khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín, kích thước (2,5x01)cm và 0,0759 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 653, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Thuận; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thành 01 (một) hình tròn; 01 (một) xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh đen, không bửng chắn gió, biển số 86F6 – 3857 (xe do B làm chủ sở hữu) là các vật chứng vụ án. Toàn bộ số vật chứng trên Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, bảo quản chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSHTB ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Huỳnh Ngọc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Huỳnh Ngọc B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội D, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Huỳnh Ngọc B từ 12 tháng đến 16 tháng tù.
Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 gói nylon hàn kín, kích thước (2,5x01)cm và 0,0759 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 653, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) cái ống thủy tinh được uốn cong thành 01 hình tròn.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh đen, không bửng chắn gió, biển số 86F6 – 3857 (xe do B làm chủ sở hữu), xe này không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo Huỳnh Ngọc B.
Ý kiến của bị cáo Huỳnh Ngọc B: Bị cáo bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc B khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/6/2022, tại khu vực đèn xanh đèn đỏ thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H tổ công tác Công an huyện H phối hợp cùng Công an thị trấn Phú Long tuần tra phát hiện Huỳnh Ngọc B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của B đang mặc 01 cái khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 gói nylon hàn kín, kích thước khoảng (2,5 x 01) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá với tổng khối lượng ma túy bị thu giữ qua giám định là 0,1591 gam là Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội D và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. [3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có cha ruột là ông Huỳnh Ngọc T được tặng bằng khen vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Quốc tế trong thời gian công tác tại Campuchia nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Huỳnh Ngọc B là người có đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy và chất ma túy được Nhà Nước thống nhất quản lý, mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, đã tàng trữ trái phép Methamphetamine là chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe và tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời thể hiện tính nghiêm M của pháp luật. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định khi lượng hình.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 gói nylon hàn kín, kích thước (2,5x01)cm và 0,0759 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 653, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Thuận; 01 ống thủy tinh được uốn cong thành 01 hình tròn là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh đen, không bửng chắn gió, biển số 86F6 – 3857 (xe do B làm chủ sở hữu), đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc mua ma tuý nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng …” lẽ ra bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với Lý Thành D (anh rể của Huỳnh Ngọc B) là người nhờ B đi mua giúp 200.000đồng ma tuý đá về sử dụng (theo lời khai của B). Đến nay ngoài lời khai của B thì không còn chứng cứ nào khác chứng mình lời khai của B là thật, mặt khác đến nay Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H chưa làm việc được với D vì không biết D đang ở đâu nên khi nào tìm được D, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H sẽ tiếp tục xác M làm rõ, xử lý sau nếu có đủ căn cứ là đúng quy định pháp luật.
- Đối với người có tên “Long” là người đã bán ma túy cho B (theo lời khai của B). Đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của đối tượng có tên “Long” trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H tiếp tục xác M, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Ngọc B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1/ Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Huỳnh Ngọc B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/6/2022. 2/ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khẩu trang màu trắng đã buộc hai đầu, bên trong có 01 gói nylon hàn kín, kích thước (2,5x01)cm và 0,0759 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 653, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong thành 01 hình tròn. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh đen, không bửng chắn gió, biển số 86F6 – 3857 (xe do B làm chủ sở hữu). Tất cả các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2022. 3/ Về án phí: Bị cáo Huỳnh Ngọc B phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4/ Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/11/2022).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND tỉnh B; - Sở tư pháp; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện H; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Thị Kim H |