- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chá A - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chá A (tên gọi khác: Chá A1, Chá A2, Chá A3) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114 /2021/HSST Ngày 14 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bắc Hải, ông Cầm Văn Chinh.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Lê Anh Cương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Chá A, tên gọi khác: Chá A1, Chá A2, Chá A3, sinh năm 1968 tại huyện TC, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản CC, xã CT, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Đảng phái đoàn thể: không; Con ông: Chá Dúa X và bà: Giàng Thị Y; Có vợ là Vừ Thị Z và có 05 người con (con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1998); Tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Chá A: Luật sư Trần Minh Huấn, thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ, ngày 14/9/2001, tổ công tác Công tác Công an huyện TC làm nhiệm vụ tại Km26 thuộc địa phận xã CM, huyện TC, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Giàng B, Sùng C, Giàng D, Giàng A E đều trú tại huyện TG, LC (nay là huyện TG, tỉnh ĐB) về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang.
Vật chúng thu giữ gồm:
Thu của Giàng B 2,35 kg thuốc phiện
Thu của Sùng C 0,6 kg thuốc phiện
Thu của Giàng D 2,05 kg thuốc phiện
Thu của Giàng A E 0,98kg thuốc phiện.
Kết luận giám định số 279 ngày 17/10/2001 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự, tỉnh Sơn La kết luận: “Chất nhựa dẻo mầu nâu thẫm ký hiệu từ C1 đến C17 là thuốc phiện”.
Mở rộng điều tra, ngày 29/10/2001, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra quyết định khởi tố bị can đối với Chá A (trú tại: Bản CC, xã CT, huyện TC, tỉnh Sơn La về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Do Chá A bỏ trốn nên Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Sơn La đã ra Quyết định truy nã số 17 ngày 29/10/2001.Đến ngày 19/02/2021, Chá A ra đầu thú.
Quá trình điều tra, Chá A khai nhận:
Ngày 12 tháng 9 năm 2001, Giàng B (trú tại: bản ND, xã PS, huyện TG, tỉnh ĐB) rủ Giàng D (trú tại: bản PC, xã PS, huyện TG, tỉnh ĐB) cùng đi tìm mua Thuốc phiện về bán kiếm lời. Sau đó hai người đi xe máy từ xã PS, huyện TG, tỉnh ĐB xuống xã CT, huyện TC, tỉnh Sơn La. Sáng ngày 14/9/2001, B và D điều khiển xe máy (mỗi người 01 xe) đến bản CC, xã CT. Trên đường đi, B, D có gặp Chá A và Vừ Vả F (em rể A - trú tại: HD, xã PL, huyện TC). A mời B và D đến nhà chơi. B, D đi cùng F đến nhà A. Tại đây, B, D đặt vấn đề mua thuốc phiện của A. A nói có một ít bán với giá 4.000.000 đồng/1kg, B, D nói A bán đắt không mua. Lúc này có Chá G (em họ A) ở cùng bản sang chơi. B và D tiếp tục hỏi mua Thuốc phiện của F, F nói giá 3.500.000đồng/1kg và bảo B, D sang nhà F xem. Tuy nhiên B và D nói đắt không mua được. Sau đó, B, D, F và A thống nhất giá bán 3.300.000 đồng/lkg. Thống nhất xong A lấy 0,6kg thuốc phiện bán cho D với số tiền 1.980.000 đồng (số Thuốc phiện này A mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết trong một lần đi làm nương), D mua của F 0,72 kg với số tiền 2.376.000 đồng, còn B mua được của F l,25kg thuốc phiện với số tiền 4.150.000 đồng.
Sau khi mua Thuốc phiện của A và F, Giàng B và Giàng D tiếp tục đi đến bản Pá Hộc, xã CT, huyện TC tìm mua Thuốc phiện. Tại đây, B và D đã gặp Và Chứ Vừ. B mua của Vừ 1,15kg Thuốc phiện với số tiền 3.195.000 đồng; D mua 0,68kg thuốc phiện với số tiền 2.144.000 đồng. Mua bán xong B, D chuẩn bị đi về thì gặp Sùng C và Giàng A E (đều trú tại: bản PC, xã PS, huyện TG, tỉnh ĐB) cũng đi mua ma túy về (gặp trên đường bản PH). Sau đó B, D điều khiển xe máy chở C và E cùng đi về, khi cả bốn người đi đến Km26 thuộc địa phận xã CM, huyện TC, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Về nguồn gốc 0,6 kg (600 gam) thuốc phiện Chá A khai mua được của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết (không biết họ tên, địa chỉ). Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ tiếp tục xác minh, điều tra.
Đối với Và Vử F, trú tại: bản HD, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra xác định F không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Chá A.
Đối với Chá G, Giàng A E hiện đang được Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, truy nã.
Đối với Giàng B, Giàng D, Sùng C đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đưa ra xét xử. Tại bản án số 22/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2002 xử phạt Giàng B 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt Giàng D 15 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt và Sùng C 06 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Tại cáo trạng số 73/Ctr-VKS-P1 ngày 14/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Chá A về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm g khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Chá A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, Điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Chá A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999: xử phạt bị cáo Chá A từ 08 đến 09 năm tù.
- Quan điểm của của luật sư Trần Minh Huấn, thực hiện trợ giúp pháp lý bào chữa cho bị cáo Chá A: Luận cứ bào chứ cho bị cáo, nhất trí với tội danh, điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo là đùng người ,đúng tội. Tuy nhiên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhệ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc Mông, sống ở vùng sâu vùng xa, điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, trình độ văn hóa không biết chữ, am hiểu pháp luật còn nhiều hạn chế, khi bị phát hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn sau đó đã tự nguyện đến cơ quan chức năng trình báo, đầu thú về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ, chú ruột là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1,2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mở lượng khoan hồng xử phạt bị cáo mức thấp của khung hình phạt.
- Bị cáo Chá A nhận tội và nhất trí với quan điểm luận cứ bào chữa của Luật sư và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội:
Ngày 14/9/2001, Chá A đã có hành vi bán trái phép 600gam nhựa thuốc phiện cho Giàng D để hưởng lợi số tiền 1.980.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 05 phút ngày 14/9/2001tại Công an huyện TC đối với Sùng C, Giàng B, Giàng D về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cùng vật chứng thu giữ là các túi nilon chứa các cục nhựa màu đen.
Thông báo kết quả giám định số 279/GĐ ngày 17/10/2001 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự, tỉnh Sơn La kết luận: “Chất nhựa dẻo mầu nâu thẫm ký hiệu từ C1 đến C17 là thuốc phiện”.
- Quyết định truy nã số 17 ngày 29/10/2001 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đối với Chá A3 (Nhìa A) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
- Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 19/02/2021 tại Công an thị trấn TC, huyện TC đối với Chá A.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác đã xét xử trước đó là Giàng B, Giàng D và các chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.thể hiện việc B, D có thỏa thuận với A về việc mua bán thuốc phiện với giá 3.300.000đ/1kg, D đã mua được của A 0,6kg thuốc phiện với giá 1.980.000 đồng.
Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Chá A đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.
Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Chá A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép 0,6kg (600gam) nhựa thuốc phiện, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Vai trò của bị cáo trong vụ án:
Bị cáo Chá A sau khi được đặt vấn đề mua bán ma túy (thuốc phiện) đã thực hiện việc trao đổi thỏa thuận, giao dịch thuốc phiện với Giàng B, Giàng D. Do đó bị cáo Chá A giữ vai trò chính trong vụ án nêu trên. Do các bị cáo Giàng B, Giàng D đã bị xét xử trước đó, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm và bị xét xử độc lập trong vụ án này.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo Chá A thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.
Bị cáo Chá A sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn sau đó đã tự nguyện đến cơ quan chức năng trình báo, đầu thú về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ, chú ruột là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam về các chất ma túy, mang tính nguy hiểm cao, gây nguy hại lớn cho xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tai, tệ nạn và các tội phạm khác. Do đó cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa Dng.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, l ra bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung ph t ti n theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999, song xét hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, vì vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung ph t ti n đối với các bị cáo.
Đối với đối tượng khác trong vụ án gồm:
Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo A không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra xác minh.
Đối với Và Vử F, trú tại: bản HD, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra xác định F không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Chá A.
Đối với Chá G, Giàng A E hiện đang được Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, truy nã.
Đối với Giàng B, Giàng D, Sùng C đã bị xét xử về cùng hành vi phạm tội đã bị xét xử trước đó. Tại bản án số: 22/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với vật chứng thu giữ tại thời điểm phát hiện hành vi phạm tội, đã được xử lý tại bản án số 22/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đối với số tiền 1.980.000 đồng mà bị cáo Chá A đã thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Do đó cần truy thu để tịch thu đối với bị cáo Chá A số tiền 1.980.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Chá A thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46, Bộ luật Hình sự 1999:
Tuyên bố bị cáo Chá A (tên gọi khác: Chá A1, Chá A2, Chá A3) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Chá A (tên gọi khác: Chá A1, Chá A2, Chá A3) 07(bảy) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/02/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Truy thu 1.980.000 đồng để tịch thu 1.980.000 đồng đối với bị cáo Chá A (tên gọi khác: Chá A1, Chá A2, Chá A3) nộp vào ngân sách Nhà nước.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Chá A (tên gọi khác: Chá A1, Chá A2, Chá A3) được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/7/2021).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Phòng PC04-Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Bị cáo; Luật sư; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Văn Thanh |