- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tuyết M phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M 08 (tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2021.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2021/HS-ST Ngày 10 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Năm
Bà Nguyễn Thị Kính
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại tr s Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 61/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 142/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2021 và Thông báo ngày 28/5/2021 về việc dời ngày xét xử, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Tuyết M; sinh năm 1996, tại Thành phố H Chí Minh; nơi cư trú: 104/15 B, phường P, Qu n 1, Thành phố H Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Ph t; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Lâm Ngọc H; chung sống như vợ ch ng (không xác định lai lịch) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2021 đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1955; nơi cư trú: 77/57 đường số 4, Phường 12, qu n T, Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)
2. Anh Đặng Vinh H, sinh năm 1988; nơi cư trú: 47/7AĐ, Phường 15, qu n T,
Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ, ngày 06/01/2021, tại trước số 215 T, Phường 3, Qu n 8, Thành phố H Chí Minh, Công an Phường 3, Qu n 8 tuần tra phát hiện Nguyễn Thị Tuyết M đang ng i trên xe gắn máy biển số 59P2-542.19, do nghi vấn M có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trên móc treo đ của xe gắn máy M đang ng i có 01 bịch lylon, bên trong có 01 hộp giấy đựng 02 gói nylon (bên trong mỗi gói nylon đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, M khai nh n là ma túy dùng để bán). Công an đưa M cùng v t chứng về tr s Công an Phường 3, Qu n 8 l p biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Công an còn tạm giữ của M 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone và xe gắn máy biển số 59P2-542.19.
Tại Kết lu n giám định số: 438/KLGĐ-MT ngày 14/01/2021, Phòng kỹ thu t hình sự - Công an Thành phố H Chí Minh kết lu n: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon (để trong 02 gói nylon trong 01 hộp giấy) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Tuyết M và hình dấu Công an Phường 3, Qu n 8, đều là ma túy thể rắn, có tổng khối lượng 19,9260g (một chín phẩy chín hai sáu không gam), loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Tuyết M khai nh n: Khoảng 10 giờ, ngày 06/01/2021, M điều khiển xe gắn máy biển số 59P2-542.19 đi chợ, trên đường về thì đi ngang khu vực Công viên 23T, phường P, Qu n 1. Tại đây, M gặp một người ph nữ (không rõ lai lịch), do M nói với người này rằng mình không có nghề nghiệp, cần tiền để nuôi con nên người này đề nghị M ph giúp người này bán ma tuý và sẽ được trả công 300.000 đ ng. Thống nhất xong, người ph nữ này đưa cho M một bịch nylon (bên trong có chứa ma túy tổng hợp) và nói M mang số ma túy này đến khu vực ngã tư đường T - A, Phường 3, Qu n 8 để bán cho người mua đã hẹn trước với giá 10.000.000 đ ng, khi M đem tiền về đưa lại cho người ph nữ thì sẽ được trả tiền công. M đ ng ý và cầm gói ma túy treo trên móc treo đ xe gắn máy biển số 59P2-542.19. M chỉ biết bịch nylon người ph nữ giao là ma túy nhưng không kiểm tra, cũng không biết c thể số lượng, khối lượng ma túy bên trong là bao nhiêu. Khi M điều khiển xe mang số ma túy đi đến điểm hẹn và dừng xe đợi trước số 215 T, Phường 3, Qu n 8 thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Xe gắn máy biển số 59P2-542.19 tạm giữ của M, qua điều tra xác minh do bà Nguyễn Thị Kim T đứng tên đăng ký. Bà T khai đã bán xe này cho anh Đặng Vinh H nhưng không l p hợp đ ng mua bán mà chỉ l p Hợp đ ng uỷ quyền có công chứng, chứng thực vào ngày 25/11/2019. Sau đó, anh H bán lại xe cho M cũng bằng hình thức l p hợp đ ng ủy quyền có công chứng, chứng thực vào ngày 25/12/2019. Bà T và anh H xác định đã bán xe nên không tranh chấp và không có yêu cầu liên quan đến việc xử lý chiếc xe này. Ngày 06/01/2021, M sử d ng xe làm phương tiện đi bán ma túy thì bị Công an tạm giữ. Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 đã có văn bản đăng báo tìm chủ s hữu hợp pháp xe trên nhưng đến nay chưa có kết quả.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSQ8 ngày 01/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 10 năm tù; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đ ng đến 10.000.000 đ ng. Về xử lý v t chứng, đề nghị Hội đ ng xét xử giải quyết theo quy định pháp lu t.
Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ v án, xác định: Vào lúc 11 giờ ngày 06/01/2021, tại trước số 215 T, Phường 3 Qu n 8, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M có hành vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 19,9260 gam, loại Methamphetamine, m c đích để bán thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như v y, Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo tr thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ s , đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và hiện đang có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do đó, Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, xét hành vi phạm tội của bị cáo là nhằm thu lợi bất chính nên Hội đ ng xét xử áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về v t chứng v án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 438/21Q8 và 01 bịch nylon, xét đây là v t cấm tàng trữ, lưu hành, v t dùng để cất giữ trái phép ma tuý nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng tạm giữ là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự, trả lại cho bị cáo.
Xe gắn máy biển số 59P2-542.19 tạm giữ của bị cáo tại thời điểm bắt quả tang là phương tiện bị cáo đi mua bán trái phép chất ma túy. Mặc dù xe vẫn do bà Nguyễn Thị Kim T đứng tên đăng ký nhưng qua lời khai và sự thừa nh n của Bà T, anh Đặng Vinh H và bị cáo M thì có cơ s xác định, thực tế Bà T đã bán xe cho anh H, sau đó anh H bán xe cho bị cáo M. Cả Bà T và anh H đều xác định không tranh chấp, không có yêu cầu liên quan đến việc xử lý xe, như v y, Bà T và anh H không còn quyền lợi liên quan đến xe này. Xét, xe gắn máy biển số 59P2-542.19 là do bị cáo mua và dùng làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma túy nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với người ph nữ giao ma túy cho bị cáo đi bán, do không xác định được lai lịch, quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố t ng nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong v án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M 08 (tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2021.
Phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 5.000.000 (năm triệu) đ ng, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 và b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong ghi v số 438/21Q8, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Ngọc T, hình dấu Công an Phường 3, Qu n 8 và chữ ký giám định viên Huỳnh Thanh T.
+ 01 (một) bịch nylon.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy biển số 59P2-542.19, số máy: JF66E0187480, số khung: RLHJF5811GY187435.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, có gắn sim số xxxx.xxx.xxx, số Imei: 352017065479501 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy).
(Theo Biên bản giao, nh n v t chứng ngày 16/3/2021, tại Chi c c Thi hành án dân sự Qu n 8).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa v của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Qu n 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Qu n 8; - CQ THA HS CA Qu n 8; - Nhà tạm giữ CA Qu n 8; - Chi c c THA DS Qu n 8; - Người tham gia tố t ng khác; - TA ND TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |