- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố: Bị cáo Kiều Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Kiều Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 114/2021/HS-ST Ngày: 21/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huê
Các Hội thẩm: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Giáo viên
Bà Nguyễn Thị Xuân Nữ - CB UBND quận Cầu Giấy.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đoàn Thanh Hưng - Cán bộ Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Hải - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 21/5/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 108/2021/HSST ngày 04/05/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 05 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kiều Xuân T - Sinh năm 1990; ĐKHKTT: xã B, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Kiều Kim C; Con bà: Đỗ Thị V (đã mất); Theo danh chỉ bản số 000151 lập ngày 20/01/2021 tại Công an quận Cầu Giấy và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có tiền án, tiền sự như sau:
Bản án hình sự sơ thẩm số 17/HSST ngày 18/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 6 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 37/HSST ngày 23/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt Kiều Xuân T 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản và 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 17/HSST ngày 18/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, buộc Kiều Xuân T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 24 tháng tù (Ra trại ngày 20/5/2012), đã xóa án tích;
Bản án hình sự sơ thẩm số 44/HSST ngày 31/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt Kiều Xuân T 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản, 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt buộc Trường phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm tù (Ra trại ngày 16/9/2019, chưa xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam ngày 16/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 16/01/2021, tổ công tác Công an phường Nghĩa Đô làm nhiệm vụ tại khu vực phố Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội phát hiện Kiều Xuân T có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của T có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 01 viên nén màu vàng. Tại chỗ, T khai đó là ma túy của T mang đi tìm nơi sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa T về trụ sở để làm rõ.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Kiều Xuân T, cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 760/KL-PC09 ngày 22/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,227 gam; 01 viên nén màu vàng là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,158 gam.
Tại cơ quan Công an, Kiều Xuân T khai: Khoảng 20h00’ ngày 15/01/2021, Trường được một người bạn xã hội tên M (T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) rủ đến nhà bạn tại khu vực phố Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội chơi, đến khoảng 01h00’ ngày 16/01/2021, M và T đi về đến khu vực bãi rác Thành Công, M bảo T đứng chờ ở ngoài còn M đi một mình vào phía trong. Khoảng 10’ sau M quay lại và hỏi T rằng có sử dụng ma túy không, T trả lời có và M đưa cho T 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 01 viên nén màu vàng là ma túy tổng hợp. T cầm ma túy trong lòng bàn tay trái và đi cùng M về phòng trọ tại địa chỉ số 23 ngõ 113 Yên Hòa, quận Cầu Giấy. Do không mở được cổng nên T đã một mình thuê xe ôm đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực đường Nghĩa Đô thì T bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Xét nghiệm nước tiểu của Kiều Xuân T cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Lời khai của Kiều Xuân T phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ, phân tích sơ bộ chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đối tượng M đã cho T ma túy, do T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSCG ngày 29/04/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố bị cáo Kiều Xuân T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 55; Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật án phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử phạt bị cáo Kiều Xuân T từ 20 tháng đến 26 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy. Bị cáo nhận thức và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản Kết luận giám định số 760/KLGĐ-PC09 ngày 22/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 16/01/2021, tại khu vực phố Nghĩa Đô, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Kiều Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,227 gam ma tuý loại Ketamine và 0,158 gam ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phường Nghĩa Đô bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo tàng trữ trái phép 02 chất matuy mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này, nên hành vi của bị cáo bị truy tố theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, bị cáo là con nghiện nhận thức rất rõ về tác hại của ma tuý nó là chất gây nghiện và gây ra nhiều tội phạm khác, nên Nhà nước ta xử lý nghiêm đối với các loại tội phạm về ma tuý, song do bị cáo không làm chủ được bản thân đi ngược lại với lợi ích xã hội vẫn cố tình đi mua ma tuý mục đích để sử dụng cho bản thân nhằm thoả mãn cơn nghiện. Hành vi phạm tội của bị cáo còn làm mất trật tự trị an trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm, nên lần phạm tội này cần phải xử lý thật nghiêm khắc bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Năm 2015 bị cáo bị đưa ra xét xử về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, chứng tỏ bị cáo là kẻ coi thường pháp luật, nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, do đó cần phải tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Trong quá trình truy tố, xét xử, hội đồng xét xử thấy bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Theo quy định của pháp luật, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là con nghiện nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng thu giữ của vụ án: 01 (Một) phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và chữ ký của Giám định viên trên mép dán phòng bì niêm phong, bên trong 01 phong bì có chứa: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là 0,227 gam ma túy loại Ketamine; 01 viên nén màu vàng là 0,158 gam ma túy loại MDMA đây là vật cấm lưu hành nên cần tiêu hủy theo Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Kiều Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Kiều Xuân T – 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2021.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và chữ ký của Giám định viên trên mép dán phòng bì niêm phong, bên trong 01 phong bì có chứa: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là 0,227 gam ma túy loại Ketamine; 01 viên nén màu vàng là 0,158 gam ma túy loại MDMA theo biên bản giao nhận vật chứng số 158/GN/THA-CA ngày 29/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Cầu Giấy; - Công an quận Cầu Giấy; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huê |