- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thanh Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PB TỈNH TN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2021/HS-ST Ngày 27 tháng 8 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PB, TỈNH TN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh
2. Bà Dương Thị Nam
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện PB, TN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PB, tỉnh TN tham gia phiên toà: Ông Đàm Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện PB, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2021/HSST ngày 29/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2021/QĐXXST - HS ngày 12/8/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: VŨ THANH T, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm TL, xã PL, huyện ĐT, tỉnh TN; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Vũ Văn T,(đã chết); Con bà: Dương Thị H, sinh năm 1969; Vợ thứ nhất: Hoàng Thị T (đã ly hôn); Vợ hiện nay: Mông Thị H, sinh năm 1986; Con: Có 1 con sinh năm 2013; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/5/2018 Tòa án nhân dân huyện NR, tỉnh B xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2018/HSST. Vũ Thanh T chấp hành xong ngày 16/11/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 16/5/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện PB.
(Có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến:
1. Ông Lê Xuân T, Sinh năm: 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: xóm TP, xã Đ, huyện PB, TN.
2. Anh Đào Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm G, xã T, huyện ĐT, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 45 phút ngày 16/5/2021, Tổ công tác Công an huyện PB phối hợp cùng Công an xã ĐT, huyê ̣n PB, tỉnh TN tuần tra tại khu công nghiệp ĐT thì phát hiện 01 nam thanh niên đang ngồi tại hàng rào công ty RF TECH khu công nghiệp ĐT thuộc xóm Trung 2, xã ĐT, huyện PB, tỉnh TN có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì nam thanh niên khai tên Vũ Thanh T, sinh năm 1989, trú ta ̣i xóm TL, xã PL, huyện ĐT, tinh TN. Qúả trình kiểm tra T đã tự giác lấy từ túi quần bò bên phải phía trước đang mặc ra giao nô ̣p 01 túi nilon màu trắng và lấy từ trong ống tay áo bên phải đang mặc ra 02 gói nilon màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng, theo T khai là ma túy loại Heroine T mua về để sử du ̣ng cho bản thân. Tổ công tác đa lâ ̣̃ p biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang, niêm phong vâ ̣t chứ ng trong bì thư ký hiệu A theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t và đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an huyện PB để điều tra làm rõ.
Hồi 16 giờ 45 phút ngày 16/5/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PB phối hợp cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, tiến hành cân xác định khối lượng 03 gói nilon màu trắng trong phong bi kỳ ́ hiê ̣u A thu giữ của Vũ Thanh T. Kết quả 03 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 0,137 gam lấy toàn bộ 0,137 gam niêm phong vào bì thư ký hiệu A1 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 883/KL-KTHS ngày 24/05/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận chất bột màu trắng trong bì thư ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,137 gam.
Ta ̣i cơ quan điều tra Vũ Thanh T khai nhận: T là người nghiện ma túy nên khoảng 8 giờ 00 phút, ngày 16/5/2021, T đi bộ một mình từ khu vực cầu kênh thuộc xã ĐT, huyện PB đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm Bình, xã ĐT, huyện PB, tỉnh TN để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi T gặp một người đàn ông không quen biết, T hỏi mua được ma túy của người đàn ông đó 03 gói nilon màu trắng bên trong đều chứa ma túy Heroine, với số tiền 300.000 đồng. Nhận được ma túy T cất 01 gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và 02 gói còn lại T cất vào ống tay áo bên phải T mặc rồi đi đến khu vực hàng rào bên ngoài của công ty RF TECH của khu công nghiệp ĐT để sử dụng. Tại đây T bỏ gói ma túy cất trong túi quần bên phải đang mặc ra sử dụng một nửa dưới hình thức “Chích” số còn lại T lại cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, sau khi sử dụng được một lúc thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của Vũ Thanh T là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01(một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn niêm phong ký hiệu A1 hoàn trả 0,123 gam mẫu A1 còn lại sau khi giám định. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện PB chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 113/CT- VKSPB, ngày 27/7/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện PB, tỉnh TN đã truy tố bị cáo Vũ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thanh T thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PB giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị với Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thanh T từ 24 đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn niêm phong ký hiệu A1 hoàn trả 0,123 gam mẫu A1 còn lại sau khi giám định.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
Thông báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an huyện PB, Viện kiểm sát nhân dân huyện PB, tỉnh TN trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các vật chứng trong hồ sơ của vụ án, do đó có đủ căn cứ để khẳng định:
Hồi 08 giờ 45 phút ngày 16/5/2021, ta ̣i khu vực hàng rào công ty RF TECH khu công nghiệp ĐT thuộc xóm Trung 2, xã ĐT, huyện PB, tỉnh TN Vũ Thanh T là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ trên người 03 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,137 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân, khi T vừa sử dụng xong thì bị tổ công tác Công an huyện PB phát hiện bắt quả tang T cùng vật chứng. Hành vi đó của bị cáo Vũ Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nơi sinh sống của bị cáo thuộc diện vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn niêm phong ký hiệu A1 hoàn trả 0,123 gam mẫu A1 còn lại sau khi giám định.
. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy loại (Heroine) T khai mua của 01 người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm Bình, xã ĐT, huyện PB, tỉnh TN. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PB không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Vũ Thanh T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/5/2021.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) bì niêm phong còn nguyên vẹn có dấu đỏ ký hiệu A1 ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,123 gam hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Vũ Thanh T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2021 giữa Công an huyện PB và Chi cục thi hành án huyện PB, tỉnh TN).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Thanh T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKS ND tỉnh TN; - VKS ND huyện PB; - Cơ quan điều tra CA huyện PB; - CQTHAHS Công an huyện PB; - CC T.H.A DS huyện PB; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Minh Huệ |