- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Truyền - vô ý làm chết người - phạm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (điều 129 Luật…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã H ng Thủy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2021/HS-PT Ngày 27/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam.
Các Thẩm phán: Ông Lê Vũ Tiến và ng Tr ng uốc Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhân Tài, Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hà Viết S n, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (Số 11 T n Đức Thắng, Huế) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2021/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo Nguyễn Văn Tr; do có kháng của bị cáo Nguyễn Văn Tr đối với Bản án hình sự s thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã H ng Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 24/01/1962 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; n i c trú: Số 04/235 đ ờng B, ph ờng Phi, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con của ng Nguyễn Văn L và bà Cao Thị Ng (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Th và có 02 con; tiền án: Kh ng; tiền sự: Kh ng; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi n i c trú; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Tr: Ông Hoàng Ngọc Th - Luật s của C ng ty Luật Hoàng Ngọc Thanh và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật s tỉnh Thừa Thiên Huế; Địa chỉ: B ph ờng X, thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Anh Phan Duy H (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phan Duy T và bà Nguyễn Thị H, là cha mẹ của anh H. Địa chỉ: Thôn Ph, xã Ph, huyện Ph, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Bị cáo Nguyễn Văn Tr là Giám đốc C ng ty trách nhiệm hữu hạn Th ng mại Dịch vụ Du lịch C(sau đây gọi tắt là C ng ty C), có trụ sở tại địa chỉ 4/235 Bà Triệu, ph ờng Phú Hội, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã đ ợc Sở Kế hoạch - Đầu t tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh vào ngày 12 tháng 9 năm 2016.
Ngày 23/11/2016, Nguyễn Văn Tr có văn bản kèm theo hồ s đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế để xin đầu t Dự án Điểm du lịch thác Chín Chàng, khe Đầy tại xã D ng Hòa, thị xã H ng Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến ngày 14 tháng 12 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh đồng ý và có uyết định chủ tr ng đầu t là giao cho C ng ty Cthực hiện Dự án.
Theo nội dung quyết định trên thì mục tiêu của dự án này là cung cấp dịch vụ tắm suối, du lịch sinh thái, nhà hàng ăn uống, nghỉ d ỡng và tiến độ thực hiện dự án là phải hoàn thành đ a vào hoạt động uý II năm 2017. uá trình thực hiện dự án, C ng ty kh ng đáp ứng đ ợc tiến độ theo yêu cầu đề ra nên ngày 10/8/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh có văn bản cho giãn tiến độ thực hiện dự án nh ng đến uý II năm 2018 là phải hoàn thành để đ a vào hoạt động.
Đến ngày 10/5/2020, dự án này vẫn ch a hoàn thành một số hạng mục về c sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn nhân lực làm việc, các thủ tục hành chính do Nhà n ớc và địa ph ng quy định, tuy nhiên Nguyễn Văn Tr vẫn đ a vào để kinh doanh du lịch.
Vào khoảng 9 giờ ngày 10 tháng 5 năm 2020, anh Phan Duy H, sinh năm 1995 cùng nhóm bạn (gồm 14 ng ời), đến tại Dự án điểm Du lịch thác Chín Chàng, khe Đầy để vui ch i, ăn uống và tắm suối. Khi vào cổng, anh H và nhóm bạn đã gửi 10 xe m t . Sau đó thuê chòi nghỉ, lò n ớng và mua bia, n ớc ngọt tại đây. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, anh H cùng nhóm bạn xuống tắm tại bãi tắm suối nói trên. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, nhóm bạn kh ng thấy anh H đâu nên đã báo cho anh Lệ và nhân viên Công ty Cbiết để đi tìm kiếm nh ng kh ng tìm đ ợc. Sau đó thì báo cho lực l ợng cứu nạn, cứu hộ C ng an tỉnh Thừa Thiên Huế đến tìm kiếm. Đến 19 giờ cùng ngày thì lực l ợng cứu hộ của C ng an tỉnh đã vớt đ ợc thi thể của anh H ở d ới lòng suối của bãi tắm nói trên.
Vật chứng vụ án: C quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 áo s mi tay dài, màu đen; 01 quần tây, ống dài, màu xám, có thắt l ng màu đen; 01 đ i dép da, màu nâu và 01 cuốn vé gửi xe máy đã bị xé một phần, có dòng chữ “KHU NGHỈ DƯỠNG SINH THÁI THÁC CHÍN CHÀNG”, số thứ tự từ 00601 đến 00749.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 100-20/TT ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đã kết luận nguyên nhân chết của anh Phan Duy H nh sau:
1. Chẩn đoán pháp y: Các dấu chứng trên c thể chứng tỏ nạn nhân chết ngạt trong m i tr ờng n ớc.
Ngoài ra kh ng phát hiện tổn th ng do chấn th ng có thể gây tử vong.
2. Nguyên nhân chết: Chết ngạt trong m i tr ờng n ớc; loại trừ mọi nguyên nhân khác.
Thời gian chết: Nạn nhân H chết trên 6 giờ so với thời gian khám nghiệm (Khám nghiệm lúc 20 giờ 30 phút ngày 10/5/2020).
- Về trách nhiệm dân sự: Ng ời đại diện hợp pháp của bị hại là ng Phan Duy T và bà Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu trách nhiệm bồi th ờng thiệt hại với số tiền tổng cộng là 220.500.000 đồng. Về phía bị cáo Nguyễn Văn Tr đã bồi th ờng đ ợc số tiền là 6.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự s thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã H ng Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội: “V ý làm chết ng ời do vi phạm quy tắc hành chính”.
Áp dụng khoản 1 Điều 129; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 01 năm 03 tháng tù nh ng cho h ởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án s thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân ph ờng Phú Hội, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi n i c trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo. Tr ờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 591, 593 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 2 Nghị định số 38/2014/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ. Tuyên xử:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu trách nhiệm bồi th ờng thiệt hại cho ng ời đại diện hợp pháp của bị hại là ng Phan Duy T và bà Nguyễn Thị H đối với số tiền còn lại là 80.260.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 22, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Th ờng vụ uốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s thẩm và 4.013.000 đồng án phí dân sự s thẩm.
Ngoài ra Bản án s thẩm còn tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13/7/2021 và ngày 15/7/2021, bị cáo Nguyễn Văn Tr có đ n kháng cáo và đ n kháng cáo bổ sung, kháng cáo toàn bộ bản án s thẩm của Tòa án nhân dân thị xã H ng Thủy.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Tr giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr, giữ nguyên quyết định của Bản án s thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã đ ợc thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên c sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về tố tụng: Đ n kháng cáo của bị cáo Tr làm trong hạn luật định là hợp lệ nên đ ợc chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Tr khai báo phù hợp với các tài liệu có trong hồ s vụ án, thừa nhận:
Bị cáo Nguyễn Văn Tr là Giám đốc C ng ty trách nhiệm hữu hạn Th ng mại Dịch vụ Du lịch C, là đ n vị thực hiện Dự án Điểm du lịch thác Chín Chàng, khe Đầy tại xã D ng Hòa, thị xã H ng Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế theo uyết định số: 3325/ Đ UBND ngày 14 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh trên c sở đề nghị của C ng ty C. Mục tiêu của dự án này là cung cấp dịch vụ tắm suối, du lịch sinh thái, nhà hàng ăn uống, nghỉ d ỡng và tiến độ thực hiện dự án là phải hoàn thành đ a vào hoạt động uý II năm 2017, cho đến nay dự án vẫn ch a đ ợc hoàn thành mặc dù ngày 10/8/2017, UBND tỉnh có Văn bản số: 5758/UBND-XTĐT ngày 10/8/2017 cho giãn tiến độ thực hiện dự án đến uý II năm 2018 là phải hoàn thành để đ a vào hoạt động. Ngày 01/05/2020 Nguyễn Văn Tr đã đ a vào để kinh doanh du lịch. Ngày 10 tháng 5 năm 2020, anh Phan Duy H cùng nhóm bạn (gồm 14 ng ời), đến tại Dự án điểm Du lịch thác Chín Chàng, khe Đầy để vui ch i, ăn uống và tắm suối. Đến 19 giờ cùng ngày thì lực l ợng cứu hộ của C ng an tỉnh đã vớt đ ợc thi thể của anh H ở d ới lòng suối của bãi tắm nói trên.
Xét kháng cáo của bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo kh ng phạm tội, thấy rằng:
Thác Chín Chàng, khe Đầy này có một bãi tắm n ớc suối chảy tự nhiên, đây là một u thế về du lịch. Trên c sở u thế này bị cáo đã xây dựng dự án tạo khu du lịch để kinh doanh du lịch. Thực tế bị cáo đ a vào kinh doanh du lịch từ ngày 01/05/2020: Làm đ ờng vào khu du lịch; làm bãi giữ xe và giữ xe; mở dịch vụ ăn uống; cho thuê áo tắm, phao tắm… thu hút rất đ ng khách du lịch (khoảng 100 khách mỗi ngày) đến đây. Mặc dù C ng ty C kh ng quản lý mặt n ớc của thác Chín Chàng và khe Đầy nh ng đây là một tài nguyên du lịch mà c ng ty đang khai thác và đ ợc xác định là hoạt động du lịch (làm bãi giữ xe và giữ xe; mở dịch vụ ăn uống; cho thuê áo tắm, phao tắm...)
Công ty C đ a địa điểm thác Chín Chàng, khe Đầy vào hoạt động kinh doanh du lịch khi ch a đ ợc c quan có thẩm quyền cấp giấy phép để kinh doanh là vi phạm khoản 5 Điều 9 Luật du lịch.
Thác Chín Chàng, khe Đầy này có một bãi tắm n ớc suối chảy tự nhiên, xung quanh bãi tắm là đất, đá tạo thành bề mặt n ớc là hình đa giác nhiều cạnh, các cạnh có kích th ớc gồm 42 mét, 37 mét, 16 mét, 9 mét, 17 mét, 90 mét, 25 mét, n i sâu nhất là 6 mét (vị trí anh Phan Duy H bị đuối n ớc). Với diện tích và độ sâu nh vậy nh ng bãi tắm lại kh ng đ ợc lắp đặt dây phao dọc, đ ợc căng dọc theo đ ờng b i có độ sâu từ 01 mét 40 trở lên dùng cho các đối t ợng đã biết b i; Dây phao ngang đ ợc căng ngang để chia khu vực có độ sâu từ 01 mét trở xuống cho ng ời ch a biết b i ngăn với khu vực có độ sâu h n 01 mét; Kh ng trang bị sào cứu hộ, phao cứu sinh (chỉ có phao cho thuê) và cũng kh ng có các biện pháp phòng tránh rủi ro, cứu nạn, cứu hộ, các ph ng tiện dụng cụ s cứu y tế hoặc các ph ng tiện khác nhằm đảm bảo an toàn cho khách du lịch. Hành vi nêu trên đã vi phạm Điều 5 và Điều 6, uy chế về quản lý Bãi tắm biển, s ng hồ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, ban hành kèm theo uyết định số: 959/ Đ-UBND ngày 11 tháng 5 năm 2016, của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và khoản 2 Điều 13 Luật du lịch.
Bị cáo Nguyễn Văn Tr dù biết rằng, khi đ a vào hoạt động kinh doanh tại bãi tắm suối thác Chín Chàng, khe Đầy thì khách du lịch đến tắm suối có thể gặp nguy hiểm về tính mạng nh ng bị cáo tin rằng hậu quả sẽ kh ng xảy ra. Tuy nhiên, anh Phan Duy H, là khách du lịch, đã bị đuối n ớc và tử vong tại đây vào ngày 10 tháng 5 năm 2020.
Bị cáo Nguyễn Văn Tr là Giám đốc C ng ty trách nhiệm hữu hạn Th ng mại Dịch vụ Du lịch C, là ng ời quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của c ng ty, nên là ng ời phải chịu trách nhiệm khi quyết định cho c ng ty C hoạt động dịch vụ du lịch. Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thị xã H ng Thủy đã xét xử bị cáo về tội “V ý làm chết ng ời do vi phạm quy tắc hành chính” theo quy định tại khoản 1 Điều 129 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Tòa án cấp s thẩm đã vận dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo; xử phạt Nguyễn Văn Tr 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nh ng cho h ởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án s thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Tr đã gây thiệt hại đến tính mạng của ng ời khác nên phải chịu trách nhiệm bồi th ờng thiệt hại theo quy định của pháp luật. Cấp s thẩm đã buộc bị cáo phải bồi th ờng các khoản gồm: Chi phí mai táng phí phải bồi th ờng là 70.500.000 đồng (tiền mua quan tài 30.000.000 đồng; tiền quần áo tang lễ: 2.000.000 đồng; tiền thuê ng ời đ a đám 13.500.000 đồng; tiền xe đ a đám 10.000.000 đồng; chi phí mua đất mộ và mai táng phí 15.000.000 đồng) và bồi th ờng khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần là 35.760.000 đồng (24 tháng l ng c bản: 24 tháng x 1.490.000 đồng/tháng) là phù hợp, theo quy định tại Điều 584, 585 và khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự. Nh vậy, bị cáo Nguyễn Văn Tr phải bồi th ờng thiệt hại tổng cộng của hai khoản với số tiền là: 106.260.000 đồng nh ng bị cáo Nguyễn Văn Tr đã tự nguyện bồi th ờng 26.000.000 đồng, nên số tiền còn lại buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải tiếp tục bồi th ờng là 80.260.000 đồng.
Tòa án cấp s thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu trách nhiệm tiếp tục bồi th ờng thiệt hại cho ng Phan Duy T và bà Nguyễn Thị H 80.260.000 đồng, là có căn cứ, đúng pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr, giữ nguyên Bản án s thẩm đã tuyên.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo kh ng đ ợc chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Các quyết định khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 33/2021/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã H ng Thủy.
Căn cứ khoản 1 Điều 129; Các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội: “V ý làm chết ng ời do vi phạm quy tắc hành chính”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nh ng cho h ởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án s thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân ph ờng Phú Hội, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi n i c trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo. Tr ờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 591, 593 của Bộ luật Dân sự. Tuyên xử:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu trách nhiệm bồi th ờng thiệt hại cho ng ời đại diện hợp pháp của bị hại là ng Phan Duy T và bà Nguyễn Thị H đối với số tiền còn lại là 80.260.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí s thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s thẩm và 4.013.000 đồng án phí dân sự s thẩm.
4. Về án phí phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, đ ợc bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND câp cao Tại Đà Nẵng; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh; - Phòng PV06 Công an tỉnh; - TAND thị xã H ng Thủy; - VKSND thị xã H ng Thủy; - C CSĐT CA thị xã H ng Thủy; - CQTHAHS CA thị xã H ng Thủy; - Chi cục THADS thị xã H ng Thủy; - Sở T pháp tỉnh; - Bị cáo; - L u Hồ s , Tòa HS, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nam |