- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H xin ly hôn Lê Quốc V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2021/HNGĐ-ST Ngày: 21/7/2021 V/v: ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Xuân Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhân Phái.
2. Bà Trần Thị Xuân Hương.
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Xuân Cầm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 27/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 2 năm 2021, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 15/6/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H , sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số 5, Nguyễn T, thành phố T, tỉnh Quảng N. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Quốc V, sinh năm 1983.
Hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã L, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hiện đang ở tại 141/711 Huỳnh Văn Lũng, phường P, thành phố T, tỉnh B. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 04 tháng 02 năm 2021 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Phan Quốc V có đăng ký kết hôn vào ngày 03/6/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng sống có hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, hay cải vả nhau và từ đó cho đến nay hai người sống ly thân. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Quốc V.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị H trình bày vợ chồng có 01 người con chung tên là Phan Lê Bảo N, sinh ngày 16/10/2013. Hiện do anh V đang nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu N cho chị được chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, tại bản tự khai, chị H thay đổi ý kiến và yêu cầu Tòa án giao cháu N cho anh V chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản trình bày ý kiến ngày 10/06/2021, anh Phan Quốc V trình bày: Anh Phan Quốc V và chị Lê Thị H có đăng ký kết hôn vào năm 2013, tại Uỷ ban nhân dân xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp và từ năm 2019 đến nay sống ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh V cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị H.
Về nuôi con: Anh V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung là Phan Lê Bảo N, sinh ngày 16/10/2013. Anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tại phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về án phí buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa chị Lê Thị H và anh Phan Quốc V vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phan Quốc V có đăng ký kết hôn vào ngày 03/6/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong quá trình chung sống vợ chồng, do tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chị H yêu cầu ly hôn, anh V cũng đồng ý. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H.
Về việc nuôi con: Xét thấy, hiện nay cháu Phan Lê Bảo N, sinh ngày 16/10/2013 đang do anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Các đương sự đều có ý kiến thống nhất giao người con chung cho anh V chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp và đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu N, phù hợp với nguyện vọng của cháu N nên cần giao cháu Phan Lê Bảo N cho anh Phan Quốc V chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị H cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Phan Quốc V.
2. Về việc nuôi con: Giao cháu Phan Lê Bảo N, sinh ngày 16/10/2013, cho anh Phan Quốc V được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0001731, ngày 04/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - VKSND huyện Phú Lộc; - Chi cục THADS huyện Phú Lộc; - Đương sự; - UBND xã Lộc Điền; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Xuân Huế |