vanban.org

Bản án 114/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 20/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án (được trừ đi những ngày bị cáo đã bị tạm giữ, từ ngày 02/4/2020 đến ngày 07/4/2020). Tịch thu và tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì số 335/KLGĐ của Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2020/HS-ST
Ngày 20-7- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quảng và bà Bùi Thị Kim Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đào Thế Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2020/TLST - HS ngày 10 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2020/HSST-QĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị L; sinh ngày: 22/8/1994 tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐK HKTT: Tổ 6, khu M, phường B, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện nay: Tổ 8, khu H, phường T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Ngọc L và bà Phạm Thị T; có chồng là Trần Sỹ H, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/4/2020 đến ngày 07/4/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

* Người chứng kiến:

- Anh Trịnh Văn H; sinh năm: 1974; nơi cư trú: Tổ 5, khu 7, phường T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Ông Vũ Ngọc T; sinh năm: 1959; nơi cư trú: Tổ 1, khu D, phường B, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 20 phút, ngày 02/4/2020 tại vỉa hè Quốc lộ 18A thuộc tổ 3, khu L, phường B, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Cẩm Phả phát hiện, bắt quả tang Đỗ Thị L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: tại túi quần phía trước bên trái của L đang mặc 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, có kích thước (1,5x2)cm; tại túi quần phía trước bên pH số tiền 70.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VTRETU, lắp sim số: 0904.188907 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng màn hình bị vỡ nứt nhiều chỗ, lắp sim số 0775.398897.

Tại bản kết luận giám định số 335/GĐMT ngày 06/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi “vật chứng thu giữ của Đỗ Thị L’’ là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,277 gam (không phảy hai trăm bảy mươi bảy gam).

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị L khai: L sử dụng ma túy, loại ma túy Đá từ cuối năm 2017. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/4/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy Đá nên L đến khu vực chợ Độc Lập, phường S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh mua của một người đàn ông tên T (L không biết địa chỉ, lai lịch cụ thể) 01 gói ma túy Đá với giá 300.000 đồng. Đến 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ trên vỉa hè Quốc lộ 18A thuộc tổ 3, khu L, phường B, thành phố Cẩm Phả tìm địa điểm để sử dụng thì bị cơ quan Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang, thu giữ các vật chứng và tài sản nêu trên.

Giai đoạn điều tra, những người chứng kiến nêu trên đều có lời khai về toàn bộ nội dung sự việc mình đã trực tiếp chứng kiến Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo tàng trữ ma túy trên người thì bị bắt, thu giữ những vật chứng và tài sản nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 100/CT-VKSCP ngày 08 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị can Đỗ Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Đỗ Thị L từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án (được trừ đi những ngày bị cáo đã bị tạm giữ, từ ngày 02/4/2020 đến ngày 07/4/2020); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì số 335/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Trả lại cho bị cáo: số tiền 70.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VTRETU, lắp sim số: 0904.188907 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng (màn hình bị vỡ nứt nhiều chỗ), lắp sim số 0775.398897.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến nêu trên khai báo mình trực tiếp chứng kiến sự việc bị cáo tàng trữ ma tuý trên người thì bị bắt quả tang. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng và giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 02/4/2020 tại khu vực vỉa hè Quốc lộ 18A thuộc tổ 3, khu L, phường B, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Đỗ Thị L có hành vi tàng trữ trái phép 0,277 gam (không phảy hai trăm bảy mươi bảy gam) ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Cẩm Phả phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở pháp luật.

. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) ... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”.

Methamphetamine là chất ma túy rất độc hại, bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng ma tuý bị cáo đã tàng trữ (0,277 gam Methamphetamine), Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và tài sản khác bị thu giữ: Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì số 335/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy. Số tiền 70.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VTRETU, lắp sim số: 0904.188907 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng (màn hình bị vỡ nứt nhiều chỗ), lắp sim số 0775.398897 đã thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Thanh bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án (được trừ đi những ngày bị cáo đã bị tạm giữ, từ ngày 02/4/2020 đến ngày 07/4/2020).

2. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì số 335/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Trả lại cho bị cáo: số tiền 70.000 đồng (bảy mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu VTRETU, lắp sim số: 0904.188907 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng (màn hình bị vỡ nứt nhiều chỗ), lắp sim số 0775.398897.

Tình trạng những vật chứng, tài sản nêu trên theo Biên bản giao vật chứng, tài sản lập ngày 09/7/2020 giữa Công an thành phố Cẩm Phả và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

3. Căn cứ: khoản 4 Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 63/2020/HSST – QĐ ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) đối với bị cáo Đỗ Thị L cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

4. Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Đỗ Thị L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ: khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/7/2020)./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP Cẩm Phả;

- Cơ quan CSĐT Công an TP Cẩm Phả;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan THAHS;

- THADS. TP Cẩm Phả;

- Lưu hồ sơ; Lưu TA./.

Nguyễn Văn Quyền THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Quảng

Bùi Thị Kim Loan

Nguyễn Văn Quyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ