vanban.org

Bản án 114/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Lê Đình D: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2020. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Dinh D - Chong nguoi thi hanh cong vu - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:114/2020/HS-ST
Ngày: 29 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng và bàNguyễn Thị Thanh Hà

- Thƣ ký phiên tòa: BàĐỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣơng Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh– Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2020/TLST-HS ngày 15/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2020/QĐXXST-HS ngày 18/9/2020đối với bị cáo:

Lê Đình D (tức Năm D), sinh năm 1985; Giới tính: Nam; Quê quán: Thôn H, xã Đ, huyện MĐ, Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, huyện MĐ, Hà Nội; Chỗ ở trước khi bị bắt truy nã: ấp C, xã A, huyện CT, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12;Con ông: Lê Đình N, con bà: Nguyễn Thị Ph (hiện đang sinh sống tại xã D, huyện DH, tỉnh Trà Vinh); Vợ: chưa có và có 01 con chung với chị Nguyễn Thị Ngọc X; Danh chỉ bản số 342 do Công an huyện Chương Mỹ lập ngày 16/6/2020;

Tiềnán, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/6/2020 (theo Quyết định truy nã), hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chương Mỹ. Có mặt

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1969. Trú tại: Thôn TP, xã ĐP, huyện C, Hà Nội.

2. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1976. Trú tại: Thôn H, xã ĐP, huyện C, Hà Nội.

* Ngƣời làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn Trì, xã Thượng Lâm, huyện MỹĐức, Hà Nội.

2. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn T, xã AM, huyện MĐ, Hà Nội.

3. Anh Nguyễn Bá Ch, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn T, xã HS, huyện U, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Lê Đình D đã thực hiện hành vi như sau:

Ngày 27/5/2012, Lê Văn Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 30P7-0442 chở sau Nguyễn Văn H cùng với Ba D (sinh năm 1989; trú tại thôn H, xã Đ, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội) và Lê Đình D (tên gọi khác Năm D) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29Y3-088.40 chở sau Nguyễn Bá Ch rủ nhau đi đánh nhau tại khu vực Quán Trắng thuộc địa phận huyện LS, tỉnh Hòa Bình. Trước khi đi, Ba D và Lê Đình D về nhà lấy 01 (một) thanh kiếm nhọn (dài khoảng 60cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sắc nhọn, chuôi gỗ màu vàng, bao kiếm bằng gỗ) và Lê Văn Đ mua 03 (ba) con dao nhọn loại dao chọc tiết lợn (dài 35cm, rộng nhất 08cm). Khi đi đến khu vực Quán Trắng, không thấy người cần tìm để đánh nhau nên cả bọn vẫn mang theo số hung khí đã Ch bị sẵn từ trước quay trở về.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Lê Văn Đ điều khiển xe máy BKS 30P7-0442 chở sau Nguyễn Văn H và Ba D, còn Lê Đình D điều khiển xe máy BKS 29Y3-088.40 chở sau Nguyễn Bá Ch đi trên đường liên xã theo hướng từ UBND xã HP - chợ H thuộc thôn H, xã ĐP, huyện C, Hà Nội. Khi cả nhóm của D đi về đến khu vực chợ ở đầu cầu H thuộc thôn H, xã ĐP thì bị tổ công tác của Công an xã ĐP đang làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tựở khu vực chợ H, phát hiện thấy 02 (hai) xe máy do Lê Đình D và Lê Văn Đ điều khiển chở quá số người quy định, xe máy không có gương chiếu hậu, các đối tượng không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, nên ông Nguyễn Quang H là Công an viên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, nhưng Lê Văn Đ và Lê Đình D không chấp hành hiệu lệnh màđiều khiển xe máy bỏ chạy về hướng UBND xã ĐP. Khi cả hai xe máy bỏ chạy được khoảng 20m thì Lê Đình D nói "Quay lại chém chết mẹ chúng nó đi, để ra HĐ bằng đường này cho gần". Lúc này, Lê Đình D điều khiển xe máy chở Nguyễn Bá Ch, còn Lê Văn Đ điều khiển xe máy chở Nguyễn Văn H và Ba D quay lại khu vực cầu H nơi có các ông Hoàng Văn T, Nguyễn Quang H là Công an viên xã ĐP, mặc quần áo Công an xã đang làm nhiệm vụ. Đến nơi, Lê Đình D liên tục chửi bới, thách thức Công an xã ĐP. Khi thấy Lê Đình D chửi bới như vậy, ông Hoàng Văn T đi đến thì D dùng thanh kiếm nhọn, còn Ba D và H dùng dao nhọn mang sẵn từ trước xông đến chém ông T. Thấy vậy, ông T dùng tấm biển hiệu quảng cáo photocopy của gia đình chị Bùi Thị K để ở gần đó chống đỡ nên không bị thương tích gì đến bản thân mà chỉ bị vỡ tấm biển quảng cáo. Khi quần chúng nhân dân ở quanh đó đến ứng cứu thì nhóm của D bỏ chạy. Đ điều khiển xe máy chở H và Ba D, còn Ch điều khiển xe máy chở D bỏ chạy. Khi chạy được 100m thì Ch giao xe máy cho D tiếp tục điều khiển chạy. Lúc này, ông T, ông H đã thông báo cho lực lượng Công an thường trực tại trụ sở Công an xã ĐPđể tổ chức bắt giữ. Khi nhận được tin báo, ông Hoàng Trường M là cán bộ Công an huyện Chương Mỹ phụ trách xã ĐP và ông Nguyễn Ngọc Ch là Trưởng Công an xã ĐPđã kịp thời chốt chặn, ông M đã khống chế dừng được chiếc xe máy do D điều khiển, chở sau là Ch và rút được chìa khóa điện. D bỏ chạy được, sau đóĐ điều khiển xe máy chở sau là H, Ba D đã đón D rồi cùng chạy về hướng xã H- PNA, huyện C. Còn Ch bị bắt giữ tại cổng trụ sở UBND xã ĐP cùng chiếc xe máy BKS 29Y3-088.40

Sau khi Ch bị bắt, lực lượng Công an xã tiếp tục truy đuổi; H, Đ, Ba D và Lê Đình D bỏ chạy đến khu vực vườn ươm giống thuộc địa phận xã PNA thì bỏ lại dao, kiếm, xe máy rồi bơi qua sông Đáy chạy trốn. Được sự hỗ trợ của Công an xã PNA và quần chúng nhân dân, lực lượng Công an xã ĐP đã bắt giữ được Lê Văn Đ và Nguyễn Văn H.

Lê Đình D và Ba D bỏ chạy thoát sau đó bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tạm đình chỉđiều tra bị can đối với LêĐình D. Đến ngày 11/6/2020, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Thành phố Hà Nội đã bắt được bị can Lê Đình D tại xã A, huyện CT, tỉnh Long An theo Quyết định truy nã số 21 ngày 11/7/2012 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ.

Đối với Nguyễn Văn H, Lê Văn Đ, Nguyễn Bá Ch đã bị xét xử về tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/2012/HSST, ngày 21/9/2012, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, cụ thể: H 09 tháng tù; Đ 06 tháng tù; Ch 06 tháng tù.

Đối với đối tượng tên là Ba D: Căn cứ lời khai và biên bản nhận dạng người qua ảnh, bị can Lê Đình D khẳng định đối tượng Ba D là Nguyễn Thanh D (sinh năm 1989; trú tại thôn H, xã Đ, huyện MĐ, TP Hà Nội). Tuy nhiên, ngoài lời khai D nhất của Lê Đình D, không có tài liệu, chứng cứ khác nào chứng M, nên Cơ quan điều tra không làm rõ được việc Nguyễn Thanh D là đồng phạm với Lê Đình D về tội “Chống người thi hành công vụ”. Bên cạnh đó, hành vi Chống người thi hành công vụ xảy ra ngày 27/5/2012 cho đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thanh D là có căn cứ.

Tại Bản Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 14/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Lê Đình Dvề tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009.

Tại phiên tòa:

- Bị cáoLê Đình D đã khai nhận và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo D. Đề nghị tuyên bố bị cáo D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 257 BLHS năm 2009; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; phạt D từ 09 đến 12 tháng tù. Vấn đề xử lý vật chứng đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/2012/HSST, ngày 21/9/2012. Bị cáo D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Về quyết định tố tụngcủa Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; Quyết định truy nã; quyết định đình nã; quyết định phục hồi điều tra vụán; quyết định phục hồi điều tra vụán hình sự đối với bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can; thu thập lời khai của người liên quan, người làm chứng từ hồ sơ vụ án đã xét xử các đồng phạm của bị cáo; xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về việc: Bị Điều tra viên, Kiểm sát viên mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

. Về nội dung:

Xét lời khai của bị cáo Lê Đình D tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 27/5/2012, Lê Đình D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 29Y3-088.40 chở sau Nguyễn Bá Ch còn Lê Văn Đ điều khiển xe máy BKS nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS: 30P7-0442 chở sau Nguyễn Văn H và Ba D đi đến khu vực đầu cầu H thuộc địa phận thôn H, xãĐP, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội trong tình trạng xe máy chở quá số người quy định, xe máy không có gương chiếu hậu, không đội mũ bảo hiểm. Do vậy, Tổ công tác Công an xã ĐP gồm ông Hoàng Văn T, ông Nguyễn Quang H mặc trang phục Công an xãđang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trật tự công cộng tại khu vực chợ H đã ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, Lê Đình D và Lê Văn Đ không chấp hành hiệu lệnh mà điều khiển xe máy bỏ chạy về hướng UBND xã ĐP. Sau đó, Lê Đình D còn hô cả bọn quay xe lại chỗ lực lượng Công an xã và có hành vi chửi bới, xúc phạm, thách thức, chống đối lực lượng Công an xã ĐP đang làm nhiệm vụ. Lúc này, Lê Đình D sử dụng 01 thanh kiếm (dài khoảng 60cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sắc nhọn, chuôi gỗ màu vàng, bao kiếm bằng gỗ), còn Nguyễn Văn H và Ba D sử dụng dao nhọn mang sẵn từ trước xông đến chém liên tiếp vào người ông Hoàng Văn T. Thấy vậy, ông T dùng tấm biển hiệu quảng cáo photocopy của gia đình chị Bùi Thị K đểở gần đó chống đỡ nên không bị thương tích gì mà chỉ bị vỡ tấm biển quảng cáo. Sau đó, D cùng đồng phạm lên xe bỏ chạy về hướng UBND xãĐP rồi chạy trốn khỏi nơi cư trú đến ngày 11/6/2020 thì bị bắt giữ.

Hành vi nêu trên của Lê Đình D đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 đúng như Cáo trạng số114/CT-VKS ngày 14/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố.

Hành vi của bị cáo Lê Đình D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi công vụ, thông qua đó đã xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành Ch trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Bị cáo D có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cốý thực hiện, nên cần pH có hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và dăn đe phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, không chỉ có một mình bị cáo có hành vi chống người thi hành công vụ, mà còn có H, Đ, Ch, Ba D khác tham gia và D là người giữ vai trò Ch trong vụ án, bởi lẽ D là người hô hào, khởi xướng các đối tượng khác chống đối lực lượng Công an xã ĐP. Sau khi gây án, D đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra; các đối tượng tham gia chống đối cùng với D thì đã bị kết án; do vậy cần phải cách ly bị cáo D với xã hội một thời gian, thời gian cách ly phải nhiều hơn Nguyễn Đ H. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụán đã được xem xét, quyết định tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/2012/HSST, ngày 21/9/2012, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Quang H, anh Hoàng Văn T không có yêu cầu gì về bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với thiệt hại chiếc biển quảng cáo: Chị Bùi Thị K đã được bồi thường và giải quyết xong trong quá trình điều tra đối với Đ, H, Ch.

Về nghĩa vụ chịuán phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, phạt:

Lê Đình D: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2020.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Lê Đình D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo liên quan đến phần quyền lợi của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ