- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Như M yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn với anh Trương Long R"
- Tòa quyết gì? Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia tài sản chung của chị Lê Như M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI,TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2020/HNGĐ-ST Ngày 25 - 5 - 2020 V/v tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Kiển – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 538/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Như M, sinh năm 1992; cư trú tại: Ấp Bàu Sen, xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trương Long R, sinh năm 1993; cư trú tại: Ấp BS, xã TD, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Công L, sinh năm 1987; cư trú tại: Ấp TL, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Lê Như M trình bày: Chị Lê Như M và anh Trương Long R kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã TD, huyện ĐD. Chị và anh R ly thân vào ngày 27/7/2019 và đã được Tòa án giải quyết ly hôn tại bản án số 230/2019/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 10 năm 2019. Về phần tài sản chung chị M và anh R tự thỏa thuận phân chia nhưng nay anh chị không thể phân chia và yêu cầu Tòa án giải quyết các tài sản như sau: 01 chiếc xe máy Exciter biển số 69F1 – 479.28 mua vào năm 2018 do anh Trương Long R đứng tên đăng ký xe, giá trị còn lại là 25.000.000 đồng hiện nay chị M đang quản lý và 01 chiếc xe máy Sirius biển số 69F1 – 04340 do anh Nguyễn Công L đứng tên đăng ký xe, giá trị còn lại là 10.000.000 đồng hiện nay anh R đang quản lý. Chị M yêu cầu được hưởng chiếc xe Exciter, giao xe Sirius cho anh R được hưởng. Chị M đồng ý giao lại cho anh R giá trị chênh lệch của xe Exciter là 4.000.000 đồng.
* Đối với bị đơn anh Trương Long R không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Công L trình bày:
Do đi làm xa nên không có điều kiện đến Tòa án và xin vắng mặt. Anh L không có yêu cầu gì vì xe đã bán cho anh R và chị M nên không còn liên quan.
* Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng dân sự và nội dung giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều từ 26 đến 40, Điều 68, Điều 93 đến Điều 97, Điều 195, Điều 196 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm, nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Như M yêu cầu chia tài sản chung. Chị Lê Như M được nhận tài sản là chiếc xe Exciter và trả lại giá trị chệnh lệch theo định giá tài sản số tiền 6.000.000 đồng, anh R được chia xe Sirius do anh L đứng tên. Án phí dân sự sơ thẩm chị M chịu 1.200.000 đồng, anh R chịu 800.000 đồng, chi phí định giá tài sản chị M và anh R mỗi người phải chịu 500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Lê Như M, anh Nguyễn Công L có đơn xin vắng mặt, anh Trương Long R vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Xét nội dung yêu cầu phân chia tài sản chung của chị Lê Như M thấy rằng: Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện vào ngày 11/01/2019 anh R có thực hiện các thủ tục để đăng ký xe mô tô EXCITER và đã được cấp biển số xe 69F1-479.28. Đối với xe SIRIUS chị M khai vợ chồng mua của anh Nguyễn Công L. Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 17/02/2020 của ông an huyện Đầm Dơi xác định xe SIRIUS biển số 69F1-043.40 chủ xe Nguyễn Công L, sinh năm 1987 ở ấp Tân Long, xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Anh L xác định đã bán xe nêu trên cho chị M và anh R nay không có yêu cầu gì. Mặc khác anh R cũng đã biết việc chị M khởi kiện yêu cầu phân chia đối với các tài sản chung nêu trên, tòa án cũng đã thông báo cho anh R về kết quả định giá tài sản đối với xe EXCITER và thông báo về việc chị M đưa ra mức giá đối với xe SIRIUS nhưng anh R không có ý kiến phản đối các vấn đề trên.
Như vậy, có căn cứ xác định trong thời kỳ hôn nhân giữa chị M và anh R có các tài sản chung là một chiếc xe EXCITER và một chiếc xe SIRIUS.
Về việc chị M yêu cầu được hưởng xe EXCITER. Thấy rằng, hiện nay chị M đang quản lý và sử dụng xe này nên cần phân chia cho chị M được hưởng. Về việc chị M đồng ý giao lại cho anh R số tiền 4.000.000 đồng giá trị chênh lệch của xe chị được hưởng. Xét thấy, tại đơn khởi kiện ngày 09/12/2019 chị M có yêu cầu được hưởng 60%, anh R được hưởng 40% trong tổng giá trị tài sản chung. Tuy nhiên, đối với xe EXCITER hiện nay còn giá trị là 30.000.000 đồng là có sự chênh lệch giá xe khi định giá nên chị M được hưởng 60% trong tổng giá trị tài sản chung của chị và anh R tương đương số tiền 24.000.000 đồng nên buộc chị M giao lại cho anh R số tiền 6.000.000 đồng là phù hợp.
Đối với xe SIRIUS anh L đã bán cho chị M và anh R, anh L không có yêu cầu gì, nay anh R đang quản lý nên giao cho anh R được hưởng là phù hợp.
Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí định giá tài sản chị M và anh R phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật dân sự; Các điều 33, 59 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;
1. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia tài sản chung của chị Lê Như M.
1.1. Phân chia cho chị Lê Như M được hưởng 01 (một) xe nhãn hiệu YAMAHA loại xe EXCITER, màu sơn đỏ đen, số máy G3D4E788192, số khung RLCUG1010JY022958, biển số 69F1- 479.28 do anh Trương Long R đứng tên giấy đăng ký xe.
1.2. Phân chia cho anh Trương Long R được hưởng 01 (một) xe nhãn hiệu YAMAHA loại xe SIRIUS, màu sơn đen vàng, số máy 5C64-590676, số khung RLCS5C640BY590662, biển số 69F1- 043.40 do anh Nguyễn Công L đứng tên giấy đăng ký xe.
1.3. Buộc chị Lê Như M phải giao lại cho anh Trương Long R số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) là giá trị chênh lệch của xe EXCITER mà chị M được hưởng.
Kể từ ngày anh Trương Long R có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả thì hàng tháng chị Lê Như M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục chuyển tên đăng ký xe được giao nêu trên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Như M phải chịu 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là đồng 625.000 đồng theo biên lai thu số 0010029 ngày 10/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị M còn phải nộp tiếp số tiền 575.000 đồng (năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Anh Trương Long R phải chịu 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).
3. Chi phí định giá tài sản: Chị Lê Như M phải chịu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng – chị M đã dự nộp và đối chiếu xong). Anh Trương Long R phải chịu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), anh R có trách nhiệm nộp số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả lại cho chị M.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục THA dân sự huyện Đầm Dơi; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Biện Thị Nhung |