- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim Q phạm tội mua bán trái phép vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim Q. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2019/HS-PT Ngày 26 - 3 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng.
- Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Đình Triết.
2. Ông Trương Công Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Huế - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 74/2019/TLPT-HS ngày 12/02/2019 đối với bị cáo Nguyễn Kim Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HSST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Kim Q, sinh năm 1982, tại tỉnh N; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo; Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim P và bà Bùi Thị N; vợ là Trần Thị Ngọc A, có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2018 đến ngày 19/9/2018. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Trần Văn Đ nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10 năm 2016 khi đi chăn dê tại khu vực mỏ đá của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn An Nguyên tại xã E, huyện C, Trần Văn Đ nhặt được 05 thỏi thuốc nổ đựng trong ống nhựa màu đen, mang về nhà cất giấu. Đ nói cho Nguyễn Kim Q (con rể của Đ) biết. Khoảng 12 giờ ngày 10/9/2018, có một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch gọi điện thoại cho Q hỏi mua thuốc nổ về bón tiêu. Q gọi điện thoại cho Đ hỏi xin số thuốc nổ trên, Đ đồng ý và giao toàn bộ số thuốc nổ trên cho Q. Q gọi điện thoại cho người đàn ông, thỏa thuận giá bán là 400.000 đồng/05 thỏi thuốc nổ, thời gian và địa điểm giao hàng là khu vực Cầu 80 mẫu. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày Q đến nhà ông Đ lấy 05 thỏi thuốc nổ, đựng vào bao xác rắn, bỏ thêm đất và phân dê vào để che giấu. Khi Đ đang vận chuyển đến đoạn đường Cầu 80 mẫu thuộc thôn T, xã Q, huyện C để giao hàng thì bị Cơ quan An ninh Điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện, bắt quảng tang, thu giữ 05 khối nhựa màu đen, bên trong chứa chất bột màu vàng nhạt có tổng khối lượng 9,75kg.
Tại Kết luận giám định số: 3807/C09B ngày 13/9/2018 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất bột màu trắng ngà đựng trong 05 gói được đánh số thứ tự từ số 01 đến số 05 gửi giám định đều là thuốc nổ Amônit, thành phần chính gồm Amônit Nitrát (NH4NO3) TNT (Trinitrotoluen) và bột gỗ. Thuốc nổ Amônít là loại thuốc nổ công nghiệp thường được dùng để phá đá, mở đường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HSST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Q phạm tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Q 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 10/9/2018 đến ngày 19/9/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định hình phạt của bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Ngày 04/01/2019 bị cáo kháng cáo xin cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, có cậu ruột là Liệt sỹ và ông ngoại là người có công với cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Kim Q về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hình phạt đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới có cậu ruột là Liệt sỹ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ông ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng được thưởng huân huy chương. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HSST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhận dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 10/9/2018, có một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), gọi điện thoại cho Q đặt vấn đề mua thuốc nổ về bón tiêu. Q điện thoại hỏi ông Trần Văn Đ (bố vợ) xin số thuốc nổ mà ông Đ nhặt được. Sau khi thỏa thuận bán thuốc nổ với một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, bị cáo Nguyễn Kim Q đã vận chuyển 05 thỏi thuốc nổ khối lượng 9,75kg đến nơi giao hàng. Khi đi đến đoạn đường cầu 80 mẫu thuộc thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk thì bị Cơ quan An ninh Điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Q về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim Q xin được hưởng án treo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân cho bị cáo; mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ gia đình bị cáo có cậu ruột là Liệt sỹ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ông ngoại được thưởng huân chương trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị cáo có căn cứ cần được chấp nhận.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HSST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về phần hình phạt.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim Q. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Q 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Kim Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Kim Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Cư M’gar; - VKSND huyện Cư M’gar; - Công an huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện Cư M’gar; - CQTHAHS - Công an huyện Cư M’gar; - UBND TT.Quảng Phú, huyện Cư M’gar; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tùng |