- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn M, phạm tội tàng trữ tái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA __________ Bản án số: 114/2018/HSST Ngày 11/9/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bạn
2. Ông Lù Văn Quý
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Lƣơng Anh – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2018/TLST – HS, ngày 22/8/2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 119/2018/QĐXXST – HS, ngày 28/8/2018 đối với bị cáo:
- Quàng Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 18/6/1995 tại TC, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT và trú tại bản Bản N, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Quàng Văn D, sinh năm 1967 và bà Lò Thị H, sinh năm 1971. Bị cáo chƣa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2018 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào hồi 22 giờ 45 phút ngày 17/5/2018, tổ công tác công an Phƣờng Ch đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 01, Phƣờng Ch đã phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn M, sinh năm 1995, trú tại bản Bản N, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. (M tự giác lấy trong mũ bảo hiểm đang đội ra giao nộp và khai nhận đó là heroine và hồng phiến mua về để sử dụng).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 03 gói ni lon màu hồng, bên trong có: 01 gói ni lon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng; 01 gói bên trong có chứa chất cục bột màu trắng; 01 gói có chứa 12 viên nén màu hồng, đồng dạng hình tròn và một số mảnh vỡ không rõ hình dạng, màu hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, bạc, BKS 26H7 0668, đã cũ qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm loại có cằm màu đen, kính màu đen nhãn hiệu SNELL, đã cũ qua sử dụng.
Ngày 18/5/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả:
- Số chất cục bột màu trắng có tổng khối lƣợng là 0,4 gam; lấy mẫu làm giám định ký hiệu M1 = 0,11 gam; M3 = 0,07 gam, còn lại 0,22 gam làm mẫu lƣu kho ký hiệu M3;
- 12 viên nén màu hồng đồng dạng hình tròn có tổng khối lƣợng là 1,12 gam; lấy mẫu giám định ký hiệu M5 = 0,47 gam; còn lại 0,65 gam làm mẫu lƣu kho ký hiệu M6;
- Các mảnh màu hồng không rõ hình dạng có tổng khối lƣợng là 0,1 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M7 = 0,1 gam.
Tại kết luận giám định số 623, ngày 23/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu giám định ký hiệu M1, M3 là ma túy; loại heroine; tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,18gam. Mẫu giám định ký hiệu M5, M7 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,57 gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 0,4 gam; loại heroine và 1,22 gam loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo Quàng Văn M khai nhận: Khoảng 18 giờ chiều ngày 17/5/2018 bị cáo điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, bạc, BKS 26H7 0668 (xe mƣợn của ông Hoàng Văn Ch, sinh năm 1963, trú tại bản Phung, Phƣờng Ch, thành phố Sơn La, là ngƣời quen của M) đi từ nhà ông Ch đến khu vực xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây M gặp và mua đƣợc của một ngƣời phụ nữ không quen biết 01 gói heroine, 12 viên hồng phiến và một số mảnh vỡ của hồng phiến với số tiền là 650.000,đ, sau khi mua đƣợc ma túy, M cất vào trong mũ bảo hiểm đang đội rồi đi đến khu vực tổ 01, Phƣờng Ch, thành phố Sơn La để tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Về nguồn gốc 1,22 gam Methaphetamine và 0,4 gam heroine, bị cáo M khai mua của một ngƣời phụ nữ, không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng M do đó không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, bạc, BKS 26H7 0668, xác định là xe do bị cáo mƣợn của ông Hoàng Văn Ch, sinh năm 1963, trú tại bản Phung, Phƣờng Ch, thành phố Sơn La, là ngƣời quen của M, khi cho bị cáo mƣợn xe, ông Ch không biết bị cáo M lấy xe để đi mua ma túy do đó cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông Ch quản lý, sử dụng. Ông Ch đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.
Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm loại có cằm màu đen, kính màu đen nhãn hiệu SNELL, đã cũ qua sử dụng, xác định là tài sản của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 96/CT – VKSTP, ngày 20/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Quàng Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Quàng Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng ngƣời, đúng tội, không oan sai.
Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn la giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng nhƣ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Quàng Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: áp dụng: Điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lƣợng chất ma túy; điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Quàng Văn M từ 18 đến 24 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trƣớc phong bì ghi: “Vật chứng lƣu kho vụ Quàng Văn M, sinh năm 1995. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 17/5/2018 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở +03 mảnh ni lon màu hồng + 01 mảnh ni lon màu xanh + mẫu lƣu kho M2 = 0,22 gam; M6 = 0,65 gam”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn;
Trả lại cho Quàng Văn M 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Snell, loại có cằm, kính màu đen, bị trầy xƣớc, qua sử dụng.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo Quàng Văn M không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả cân tịnh vật chứng, kết luận giám định; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên ṭ a bị cáo M thừa nhận đã mua 0,4 gam loại chất heroine và 1,22 gam loại chất methamphetamine để sử dụng. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 45 phút ngày 17/5/2018, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và niêm phong lại, kết luận giám định số 623, ngày 23/65/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La.
[3] Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở để kết luận hành vi cất giữ 0,4 gam loại chất heroine và 1,22 gam loại chất methamphetamine của bị cáo. Theo hƣớng dẫn tại điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lƣợng chất ma túy, trong hai loại ma túy thu giữ của bị cáo có chất heroine khối lƣợng là 0,4 gam và loại chất methamphetamine có khối lƣợng là 1,22 gam thuộc trƣờng hợp quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, nên tổng khối lƣợng chất ma túy thu giữ trong vụ án là 1,64 gam thuộc trƣờng hợp quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 “ có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lƣợng hoặc thể tích của các chất đó tƣơng đƣơng với khối lƣợng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn, ảnh hƣởng đến sức khỏe, nòi giống của bản thân, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm hình sự khác, do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng nhƣ giáo dục phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo M khai mua của một ngƣời một ngƣời phụ nữ, không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng M do đó không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
[10] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, bạc, BKS 26H7 0668, xác định là xe do bị cáo mƣợn của ông Hoàng Văn Ch, sinh năm 1963, trú tại bản Phung, Phƣờng Ch, thành phố Sơn La, là ngƣời quen của M, khi cho bị cáo mƣợn xe, ông Ch không biết bị cáo M lấy xe để đi mua ma túy do đó cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông Ch quản lý, sử dụng, cần chấp nhận.
- Đối với 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trƣớc phong bì ghi: “Vật chứng lƣu kho vụ Quàng Văn M, sinh năm 1995. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 17/5/2018 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 03 mảnh ni lon màu hồng + 01 mảnh ni lon màu xanh + mẫu lƣu kho M2 = 0,22 gam; M6 = 0,65 gam”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn. Xét thấy vật chứng thuộc loại Nhà nƣớc cấm tàng trữ, lƣu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Snell, loại có cằm, kính màu đen, bị trầy xƣớc, đã qua sử dụng. Cần trả lại cho bị cáo bị cáo M quản lý, sử dụng.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo Quàng Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Xử phạt bị cáo Quàng Văn M 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 5 năm 2018.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trƣớc phong bì ghi: “Vật chứng lƣu kho vụ Quàng Văn M, sinh năm 1995. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 17/5/2018 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 03 mảnh ni lon màu hồng + 01 mảnh ni lon màu xanh + mẫu lƣu kho M2 = 0,22 gam; M6 = 0,65 gam”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn;
- Trả lại cho Quàng Văn M 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Snell, loại có cằm, kính màu đen, bị trầy xƣớc, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2018 giữa cơ quan Công an thành phố Sơn La và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Quàng Văn M phải chịu 200.000,đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Quàng Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11 tháng 9 năm 2018.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND TP Sơn La (2); - Công an TP Sơn La; - Chi cục THADS TP Sơn La; - Sở Tƣ pháp tỉnh Sơn La; - THAPT (3); - Bị cáo M; - Lƣu HS, AV; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Cầm Thị Thanh Huyền |