vanban.org

Bản án 114/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc P 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2018/HS-ST
Ngày: 25-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Trọng Thắng;

Bà Tống Thị Kim Điền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Dương - Thư ký Toà án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc P; tên gọi khác: /; sinh ngày 24/12/1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường NAN, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Ngọc A, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Huỳnh N; chưa có vợ con; tiền sự - tiền án: không; bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 29/4/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Lê H; địa chỉ: đường số H, cư xá LG, Phường N, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- 1 -

Vào tối ngày 28/4/2018, Nguyễn Ngọc P liên hệ qua mạng Zalo rủ người bạn nữ tên Quỳnh M (không rõ nhân thân) đi uống bia, sau đó cả hai rủ nhau mua ma túy sử dụng, Quỳnh M liên hệ với người bán ma túy rồi kêu P đi mua, P chạy xe gắn máy hiệu Mio biển số 54M2- 6865 ra ngã tư đường NTT và LVL gặp người thanh niên khoảng 25 tuổi không rõ lai lịch, mua ma túy với giá 500.000 đồng. Khi có ma túy P và Quỳnh M thuê phòng sử dụng, số còn lại P cất giữ trong người và đi về, trên đường từ Quận X về quận T, tại ngã tư Đường 85 và Đường 38, phường Q, Quận X, P bị công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 29/4/2018, thu giữ bên trong túi quần bên phải của Phương đang mặc 03 gói ny lon chứa tinh thể không màu.

Tại cơ quan điều tra, P khai nhận hành vi phạm tội của mình và khai xe gắn máy hiệu Mio biển số 54M2- 6865, P mượn của người em, quen ngoài xã hội, không biết chỗ ở.

Theo Kết luận giám định số 811/KLGĐ-H ngày 04/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3444g (một phẩy ba bốn bốn bốn gam), loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói ma túy niêm phong (số vụ 811/18) có chữ ký của Nguyễn Ngọc P.

- 01 điện thoại di động hiệu Q-Smart, màu xanh.

- 01 xe gắn máy hiệu Mio màu đỏ, biển số 54M2-6865 qua xác minh biển số xe do anh Phạm Lê H ngụ tại: đường H, Cư xá LG, phường 5, Quận Y đứng tên sở hữu, nhưng xác minh tại địa chỉ trên không có ai tên Phạm Lê H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận X đã thông báo tìm chủ sở hữu xe.

Bản Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 21/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận X đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Quận X đã truy tố, bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt. Đối với xe gắn máy hiệu Mio biển số 54M2- 6865, bị cáo khai mượn của người em không rõ nhân thân, lai lịch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- 2 -

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc P đã thực hiện hành vi đi mua rồi cất giữ 03 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,3444g để sử dụng nên phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận X truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh xấu đến trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần có mức án nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, đến ngày Tòa án đưa ra xét xử bị cáo không có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nghiện ma túy, phạm tội tàng trữ để sử dụng nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Mio biển số 54M2- 6865, tại cơ quan điều tra bị cáo khai mượn của người của người em, quen ngoài xã hội, không biết chỗ ở. Tại phiên tòa, bị cáo khai mượn của người em không rõ lai lịch. Xét trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X đã thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp

- 3 -

pháp của chiếc xe nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến nhận. Vì vậy, tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe gắn máy Mio biển số 54M2- 6865 theo quy định của pháp luật.

Xử lý vật chứng vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa ma túy còn nguyên niêm phong số vụ 811/18 có chữ ký Nguyễn Ngọc P.

+ 01 điện thoại di động hiệu Q-Smart màu xanh, là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Mio màu đỏ, biển số 54M2-6865, số khung: 4AC-062731, số máy: 4AC-062731, do chưa xác định rõ được chủ sở hữu, nên tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 60 ngày để xác định chủ xe hợp pháp. Quá hạn thông báo sẽ giao cho Ủy ban nhân dân Quận X xử lý theo quy định về tài sản vắng chủ.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc P 01 năm 06 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2018.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói chứa ma túy còn nguyên niêm phong số vụ 811/18 có chữ ký của bị cáo Nguyễn Ngọc P.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại di động hiệu Q- Smart màu xanh.

Thông báo trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày trên phương tiện thông tin đại chúng đối với chiếc xe gắn máy máy nhãn hiệu Yamaha dáng Mio màu đỏ, biển số 54M2-6865, số khung: 4AC-062731, số máy: 4AC-062731, để tìm chủ xe hợp pháp. Quá thời hạn thông báo sẽ giao cho Ủy ban nhân dân Quận X xử lý theo quy định về tài sản vắng chủ.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 108 ngày 09/8/2018)

- 4 -

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ