- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn G - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn G
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2018/HS-PT Ngày 08 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán:
Bà Châu Minh Hoàng
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Kông - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 116/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn G do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2018/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh năm 1979 tại huyện Cái N, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp Trọng B, xã Đông H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (1948) và bà Võ Thị D (1950); Vợ là Nguyễn Bé S (1978) đã ly hôn và có 03 người con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phạm Minh L, sinh năm 1956 (chết)
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Phạm Hoàng Đ, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Ấp Kinh M, xã Hàm R, huyện Năm C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1956. Nơi cư trú: Ấp Kinh M, xã Hàm R, huyện Năm C, tỉnh Cà Mau. (không triệu tập)
+ Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1972 (không triệu tập)
+ Cháu Nguyễn Diễm M, sinh năm 2009 (không triệu tập)
Người giám hộ cho chị Nguyễn Diễm My: Bà Võ Thị D1, sinh năm 1950 (bà nội, không triệu tập) . Cùng nơi cư trú: Ấp Trọng B, xã Đông H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ cùng ngày22/12/2017, Nguyễn Văn G điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 69E1-230.48 chở anh Nguyễn Văn D và con của G là cháu Nguyễn Diễm M lưu thông theo hướng thị trấn Cái N về xã Đông T.
Khi đến khu vực ấp Cái N, thị trấn Cái N thì nón kết G đang đội phía bên trong nón bảo hiểm bị sụp xuống che hai mắt nên không quan sát được. G điều khiển xe môtô lấn sang phần đường phía bên trái hướng đi, đụng vào xe môtô biển số kiểm soát 69M1-038.55 do ông Phạm Thanh L điều khiển chở vợ là bà Nguyễn Thanh Thủy đang lưu thông theo chiều ngược lại. Tai nạn xảy ra làm 05 người bị thương được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Cái N cấp cứu, đến 17 giờ 30 cùng ngày thì ông L tử vong, bà T bị thương nhẹ; còn G, anh D, cháu M được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau điều trị.
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 22/12/2017 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 225-GĐPY/2017 ngày 23/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết nguyên nhân dẫn đến ông L tử vong là do chấn thương sọ não hở.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của G tại thời điểm gây tai nạn là 206 miligam/100 mililít máu.
Tại biên bản phân tích lỗi ngày 27/12/2017 xác định: G vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Nguyên nhân chính gây tai nạn là do G điều khiển xe môtô biển số 69E1-230.48 chạy lấn sang phần đường bên trái hướng đi đụng vào xe môtô biển số 69M1-038.55 do ông L điều khiển chạy ngược chiều.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.
Ngày 20 tháng 8 năm 2018, bị cáo Nguyễn Văn G có đơn kháng cáo xin hưởng án treo để có thể đi làm lo cho gia đình và chữa bệnh cho con gái.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn G thừa nhận: Sau khi nhậu ở quán thịt cầy Miền Tây thuộc thị trấn Cái N, khoảng 17 giờ cùng ngày 22/12/2017, G điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 69E1-230.48 chở anh Nguyễn Văn D và con của G là cháu Nguyễn Diễm M về nhà ở xã Đông T. Khi đến khu vực ấp Cái N, thị trấn Cái N thì G điều khiển xe môtô lấn sang phần đường phía bên trái hướng đi, đụng vào xe môtô biển số kiểm soát 69M1-038.55 do ông Phạm Thanh L điều khiển chở vợ là bà Nguyễn Thanh T đang lưu thông theo chiều ngược lại. Tai nạn xảy ra làm cho ông L bị thương nặng và sau đó tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của G tại thời điểm gây tai nạn; Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y tử thi; Lời khai của những người có mặt tại hiện trường vụ án.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.
. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Khi tham gia giao thông, bị cáo đã uống nhiều rượu và có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức cho phép nên bị cáo không đủ tỉnh táo để điều khiển phương tiện. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo điều khiển xe chạy lấn sang phần đường bên trái hướng đi của mình và đụng vào xe của bị hại, làm cho bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo đã tước đi vĩnh viễn mạng sống của bị hại; gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại.
Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng minh bị cáo là lao động chính trong gia đình, bà ngoại của bị cáo là bà Ngô Thị Bài có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, án sơ thẩm chưa xem xét.
Tuy nhiên, dù cho bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng mức hình phạt án sơ thẩm tuyên 09 tháng tù là dưới mức khởi điểm của Điều luật quy định (mức khởi điểm là 03 năm đến 10 năm). Do đó việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, đáp ứng yêu cầu địa phương về phòng chống tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Vì vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật
. Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn G
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cái N
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án phí: Bị cáo G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Cái N; - Công an huyện Cái N; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái N; - Chi cục THADS huyện Cái N; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chung Văn Kết |