vanban.org

Bản án 114/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 06/09/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Thùy D.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Thùy D ly hôn với anh Phạm Lê Ngọc T. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Thị Thùy D chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001182 ngày 30/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Thùy D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 114/ 2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 06/ 9/ 2018
V/v: "Ly hôn ".
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Khưu Để Dành
Các Hội thẩm nhân dân:
dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 182/2018/TLST-HNGĐ
ngày 30/5/2018 về việc "Ly hôn ", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
312/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số
191/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13/8/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thùy D, sinh 1995 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Phạm Lê Ngọc T, sinh 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy D trình bày: Chị và anh Phạm Lê Ngọc T chung sống với nhau từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân, do bất đồng về chỗ ở, về quan điểm sống giữa vợ chồng và gia đình hai bên không hòa hợp nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài, chị xin được ly hôn.

Về quan hệ con chung, tài sản và nợ chung không có chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Lê Ngọc T: Kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh T đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị đơn anh Phạm Lê Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy, căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh T.

Sau khi quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau, năm 2014 chị Ngô Thị Thùy D với anh Phạm Lê Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau, được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 52 ngày 10/10/2014. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Ngô Thị Thùy D, thấy: Vợ chồng chị D và anh T chung sống với nhau, có thời gian hạnh phúc; tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay; kể từ khi sống ly thân đến nay chị D với anh T không gặp nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau. Ngoài lời trình bày của chị D, điều này còn được thể hiện, kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh T đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị D để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị Ngô Thị Thùy D với anh Phạm Lê Ngọc T không còn, tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Thùy D.

[4] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chị Ngô Thị Thùy D là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Thùy D.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Thùy D ly hôn với anh Phạm Lê Ngọc T.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Thị Thùy D chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001182 ngày 30/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Chị Ngô Thị Thùy D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án; anh Phạm Lê Ngọc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ