vanban.org

Bản án 114/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/11/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Danh Ph1, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Danh Ph1 phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Trần Danh Ph1 10 (mười) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Ph1 - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Danh Ph1, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2017/HSPT
Ngày: 20/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng.

Các thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng.

Ông Ong Thân Thắng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 20/11/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 150/2017/HSPT ngày 02/10/2017 đối với bị cáo Trần Danh Ph1 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 58/2017/HSST ngày 16/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Danh Ph1, sinh năm 1989 (Tên gọi khác: Không).

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn YL, xã YM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Trần Danh Ph2 và bà Đặng Thị T; Có vợ là Khúc Thị Th và 02 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2017 đến ngày 20/02/2017, được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có 02 người đại diện hợp pháp của người bị hại, 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản cáo trạng của VKSND huyện LN và bản án hình sự sơ thẩm số 58/2017/HSST ngày 16/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:

Trần Danh Ph1 là người có giấy phép lái xe hạng C số 310136012474 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp đổi ngày 22/01/2016. Bản thân Ph1 lái xe hợp đồng cho Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại HN có địa chỉ ở thôn NNg, xã QuCh, huyện VY, tỉnh Bắc Giang theo hợp đồng lao động số 20/HĐLĐ-HN ngày 30/8/2016. Theo lịch làm việc, ngày 13/02/2017, Ph1 lái xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-003.86 chở than từ huyện SĐ về xã QuCh, huyện VY, trên xe có anh Đặng Văn H1, sinh năm 1989 ở thôn Tr, xã VTh, huyện VL, tỉnh Thanh Hóa là phụ xe của Công ty. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi gần đến cầu LN, đường tỉnh 293 thuộc địa phận Tổ dân phố C1, thị trấn LN, huyện LN, Ph1 nhìn thấy phía trước có một xe ô tô con (loại xe con 04 chỗ ngồi, không rõ biển số) đỗ ở sát mép đường bên phải theo hướng đi của Ph1 ở phía trước đầu cầu LN. Cùng lúc này xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 018.20 do anh Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1998 ở thôn LR, xã BL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang điều khiển đi ngược chiều từ phía trên cầu LN xuống. Thấy vậy, Ph1 điều khiển xe ô tô 98C-003.86 đi sang phần đường bên trái theo hướng đi để tránh và vượt qua chiếc xe ô tô con, khi đầu xe ô tô biển kiểm soát 98C-003.86 vừa vượt qua xe ô tô con thì xe mô tô của Th2 đi đến, thấy nguy hiểm nên Ph1 đánh lái sang phải để tránh nhưng không kịp khiến đầu xe bên phải ô tô 98C-003.86 va chạm với đầu xe mô tô 98F1-018.20 do anh Th2 điều khiển. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn Th2 ngã ra đường và bị bánh sau bên phải xe ô tô 98C-003.86 đè qua người chết tại chỗ, còn xe mô tô 98F1-018.20 bị xe ô tô biển kiểm soát 98C-003.86 kéo trượt trên mặt đường. Sau đó Ph1 phanh xe dừng lại xuống xe thì phát hiện thấy nạn nhân Th2 chết tại chỗ, sợ bị người dân đánh nên Ph1 đã để lại xe ô tô ở hiện trường và đến Công an huyện LN tự thú về hành vi vi phạm giao thông của mình.

Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN đã phối hợp với các cơ quan chức năng, cơ quan chuyên môn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tiến hành điều tra theo quy định:

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn là mặt đường cầu LN, đường tỉnh 293 thuộc địa phận Tổ dân phố C1, thị trấn LN, huyện LN. Mặt đường trải nhựa rộng 7,92 m, dốc theo hướng NghPh đi thị trấn ĐNg (lên dốc). Trên cầu có đèn cao áp chiếu sáng.

Quá trình khám nghiệm hiện trường theo hướng xã NghPh đi thị trấn ĐNg, trái phải xác định theo hướng khám nghiệm.

- Trên mặt cầu phát hiện một vết xước dạng chùm không liên tục, chiều hướng xã NghPh đi thị trấn ĐNg, kích thước (36,3 x 0,4)m. Điểm đầu vết xước cách mép đường trái là 2,56m, cách cột điện số 08TTLN là 8,03m về phía thị trấn ĐNg. Điểm cuối vết xước trùng để chân trước bên trái xe mô tô 98F1-018.20 và mặt ngoài bên trái giá kim loại gắn phía sau xe mô tô 98F1-018.20.

- Trên mặt cầu phát hiện một tử thi là nam giới, mặc quần dài màu xanh, áo dài màu xanh, nằm sấp, đầu hướng thị trấn ĐNg, hai chân hướng mép đường trái. Gót chân trái cách mép đường trái là 2,97m, cách điểm đầu vết xước là 2,22 m về phía thị trấn ĐNg. Đỉnh đầu cách mép đường trái là 2,92m, xung quanh đầu có nhiều tổ chức não dập nát.

- Xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-003.86 đỗ trên mặt cầu, đầu xe hướng thị trấn ĐNg, đuôi xe hướng xã NghPh. Trục trước bên trái cách mép đường trái là 2,4m. Trục sau cuối bên trái cách mép đường trái là 1,29m, cách điểm đầu vết xước là 28,1m về hướng thị trấn ĐNg.

- Xe mô tô 98F1-018.20 đổ nghiêng trái dưới gầm đầu xe ô tô 98C-003.86, đầu xe hướng mép đường trái, đuôi xe hướng mép đường phải. Trục trước cách mép đường trái là 2,98 m, cách trục trước bên trái xe ô tô 98C-003.86 là 0,9 m. Trục sau cách mép đường trái là 3,9 m.

- Đầu cầu bên trái, cách vết xước X về hướng NghPh 3,28 m có biển báo nguy hiểm: Giao nhau với đường không ưu tiên (207a) ở cách 08 m. Mặt biển quay về hướng thị trấn ĐNg.

- Tại hiện trường có nhiều nước do chảy từ két nước ô tô biển kiểm soát 98C-003.86 ra.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-003.86 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 018.20.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Khi đến hiện trường, xác định nạn nhân tử vong tại chỗ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN thành lập hội đồng khám nghiệm tử thi.

+ Khám ngoài: Tử thi là nam giới được xác định là Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1998 ở thôn LR, xã BL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Thể trạng phát triển bình thường, chiều dài tử thi 1,53m. Trang phục: Mặc ngoài áo bò dài màu xanh, bên trong mặc áo phông cộc tay màu xanh. Mặc quần dài màu xanh, hai chân đeo tất màu đen. Quần áo rách nát nhiều chỗ, bám dính nhiều bụi bẩn và chất màu nâu đỏ. Tử thi đang trong giai đoạn mềm lạnh.

+ Các dấu vết, thương tích:

- Biến dạng toàn bộ vùng đầu, mặt. Dập nát toàn bộ xương hộp sọ, xương nền sọ thành nhiều mảnh nhỏ. Tổ chức não dập nát thoát ra bên ngoài thành nhiều mảnh nhỏ.

- Biến dạng toàn bộ vùng ngực. Vùng ngực, bụng bám dính nhiều chất màu nâu đỏ; kiểm tra thấy toàn bộ tim thoát ra bên ngoài, bề mặt tâm thất, tâm nhĩ có nhiều vết rách nằm rải rác, gẫy sập phức tạp toàn bộ xương sườn hai bên và xương ức.

- Biến dạng toàn bộ hai chi trên, kiểm tra thấy gẫy kín, phức tạp toàn bộ xương hai chi trên.

- Biến dạng toàn bộ hai đùi, kiểm tra thấy gẫy kín, phức tạp xương đùi hai bên.

- Dập nát rách da vùng bìu để lộ tinh hoàn hai bên, đầu dương vật bầm tím.

+ Khám trong: Không giải phẫu tử thi vì nguyên nhân chết đã rõ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN ra Quyết định trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết của Nguyễn Văn Th2. Tại bản kết luận giám định số 447/KL-PC54 ngày 27/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Văn Th2: Đa chấn thương: chấn thương sọ não, chấn thương ngực hở, gẫy kín phức tạp xương tứ chi do tai nạn giao thông.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

- Xe ô tô tải, nhãn hiệu Huyndai, BKS 98C-003.86:

+ Đầu ba đờ sốc trước bên trái bị bẹp méo, mài xước sơn, kim loại hướng từ trước ra sau.

+ Mặt dưới nhíp giảm xóc trước bên trái bị mài sát kim loại, bám dình chất màu xanh ( nghi sơn) kích thước ( 43x8,5)cm.

+ Mặt trước trục trước bị mài sát kim loại sạch bụi đất trên diện ( 45 x11) cm.

+ Giữa khe hai bánh sau cuối bên phải bám dính máu và tổ chức não người trên diện rộng. Chắn bùn sau hai bánh sau và lốp dự phòng bám dính nhiều máu dạng bắn.

- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, BKS 98F1-018.20:

+ Mặt bên trái vành bánh trước bị cong vênh, mài sát kim loại.

+ Càng xe bên trái phía trước bị gẫy rời.

+ Toàn bộ phần đầu xe bị vỡ nhựa, cong vênh, biến dạng, mài sát kim loại hướng từ trước về sau, từ trái sang phải.

+ Để chân trước bên trái bị cong vênh, mài sát cao su, kim loại, kích thước ( 4,5 x 4, 2) cm.

+ Cần số bị cong vênh hướng từ trái sang phải.

+ Mặt ngoài giá thồ hàng bên trái gắn sau xe bị mài sát kim loại.

+ Chân chống gắn với giá thồ hàng bị mài sát kim loại.

Ngày 15/02/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định: cơ chế hình thành dấu vết giữa hai phương tiện; điểm va chạm và vị trí va chạm đầu tiên và tốc độ của mỗi phương tiện trước và khi xảy ra tai nạn. Tại Bản kết luận giám định số 483/KL-PC54 ngày 20/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

1. Dấu vết chùn cong, mài sát, nứt vỡ nhựa, kim loại ở phần đầu, đen pha, xi nhan trước, khung đầu của xe mô tô 98F1-018.20 được hình thành do va chạm với vị trí dấu vết bẹp méo, mài sát sơn, kim loại ở đầu ba đờ sốc trước bên phải của xe ô tô 98C-003.86.

2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô 98C-003.86 với xe mô tô 98F1-018.20 trên mặt đường ở phía trước điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường, ký hiệu X, thuộc phần đường bên trái theo hướng NghPh- ĐNg;

3. Không đủ điều kiện để xác định tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn.

Ngày 10/4/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản để xác định giá trị thiệt hại của phương tiện trong vụ tai nạn giao thông là chiếc xe mô tô BKS 98F1-018.20 trên. Tại Kết luận định giá tài sản ngày 14/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện LN xác định: Giá trị thiệt hại của xe mô tô 98F1-018.20 là 13.740.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Danh Ph1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 58/2017/HSST ngày 16/8/2017 của TAND huyện LN đã xét xử và quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Danh Ph1 phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ph1 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 06 ngày tạm giữ (từ ngày 14/02/2017 đến ngày 20/02/2017).

Ngoài ra bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử xong, ngày 28/8/2017 bị cáo Trần Danh Ph1 nộp đơn kháng cáo với nội dung xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo Trần Danh Ph1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo Trần Danh Ph1 kháng cáo với lý do: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có ông nội và bà nội là người có công với cách mạng, bố bị cáo được tặng kỷ niệm chương “Bảo vệ an ninh tổ quốc”.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Danh Ph1 đã nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trần Danh Ph1, qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm thấy đủ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/02/2017, Trần Danh Ph1 lái xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-003.86 khi đi gần đến cầu LN, đường tỉnh 293 thuộc địa phận Tổ dân phố C1, thị trấn LN, huyện LN bị cáo Ph1 thấy phía trước có xe ô tô đỗ nhưng đã không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98F1-018.20 đi ngược chiều do anh Nguyễn Văn Th2 điều khiển. Hậu quả anh Th2 bị thương nặng và chết ngay tại hiện trường. Theo kết luận giám định pháp y xác định nguyên nhân chết của Nguyễn Văn Th2: Đa chấn thương: chấn thương sọ não, chấn thương ngực hở, gẫy kín phức tạp xương tứ chi do tai nạn giao thông. Cùng ngày, Trần Danh Ph1 đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN đầu thú. Khi tham gia giao thông bị cáo Trần Danh Ph1 đã vi phạm quy định điểm c khoản 2 điều 17 Luật giao thông đường bộ quy định “Xe nào có chướng ngại vật phía trước phải nhường đường cho xe không có chướng ngại vật đi trước”. Hành vi của Trần Danh Ph1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Án sơ thẩm đã căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ và diễn biến tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Danh Ph1 về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Danh Ph1 thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị cáo ra đầu thú. Đại diện người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo của bị cáo Trần Danh Ph1 thì thấy:

Tại cấp phúc thẩm người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Nguyễn Văn M1 và bà Khuông Thị H2 tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự đối với Trần Danh Ph1, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại thêm 10 triệu đồng, bị cáo nộp thêm huân chương kháng chiến của ông Trần Trọng Th3 (là ông nội của bị cáo) và huân chương kháng chiến của bà Lê Thị D1 (là bà nội của bị cáo), bố bị cáo trước đây là phó công an xã YM được tặng thưởng kỷ niệm chương về bảo vệ an ninh tổ quốc. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới trong quá trình xét xử phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo Trần Danh Ph1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, căn cứ Khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đây là quy định theo hướng có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng cho bị cáo, căn cứ nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 nên cần cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên căn cứ Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Danh Ph1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Điểm b, Khoản 2, Điều 248; Điểm đ, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Danh Ph1, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Danh Ph1 phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Danh Ph1 10 (mười) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Danh Ph1 cho UBND xã YM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Khoản 1, Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[2] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Danh Ph1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ