vanban.org

Bản án 114/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2017/HNGĐ_ST
Ngày: 27/4/2017
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Chính

2. Ông Trang Văn Hai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẩn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2017, tại Hội trường 04 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2616/2016/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2016 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2017/QĐST – HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị X, sinh năm 1988

Địa chỉ: K2/262, ấp Tân Bình, P.Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Trần Lâm Y, sinh năm 1982

Địa chỉ: K2/262, ấp Tân Bình, P.Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

(Chị X có mặt, anh Y vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị X trình bày: Trên cơ sở tự nguyện, năm 2010 chị và anh Y kết hôn có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND P.Bửu Hòa và đã được UBND P.Bửu Hòa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 80/TP-HT, quyển số 01/2010 ngày 17/5/2010.

Thời gian đầu vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ việc anh Y thường xuyên đánh bạc, đánh đề, không chăm lo cho gia đình. Tuy chị và gia đình hai bên đã có gắng hòa giải đoàn tụ nhưng anh Y không thay đổi mà còn hăm dọa giết chị cùng con chung. Chị xác định không còn tình cảm với anh Y, từ tháng 8/2016 chị đã sống ly thân với anh Y. Nay, chị khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y.

Về con chung: Chị và anh Y có 01 con chung là cháu Trần Võ Tường Vy, sinh ngày 26/02/2011. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vy, không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tuy nhiên anh Trần Lâm Y không thực hiện các nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến của anh Y về việc giải quyết vụ án

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:

- Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:

- Nguyên đơn chị Võ Thị X khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Lâm Y đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị Võ Thị X là nguyên đơn, anh Trần Lâm Y là bị đơn trong vụ án

- Theo biên bản xác minh ngày 20/4/2017 của công an phường Bửu Hòa, anh Trần Lâm Y sinh sống tại phường Bửu Hòa, Tp Biên Hòa. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Về thủ tục tố tụng khác: Bị đơn anh Trần Lâm Y đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Y.

3. Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị X và anh Trần Lâm Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND P.Bửu Hòa và đã được UBND P.Bửu Hòa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 80/TP-HT, quyển số 01/2010 ngày 17/5/2010 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị X, xuất phát từ việc anh Y ham mê cờ bạc, lô đề mà vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn. Qua xác minh tại địa phương cho thấy vợ chồng chị X anh Y có mâu thuẫn. Chị X xác định anh chị đã sống ly thân từ tháng 8/2016 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Y không đến Tòa án làm việc không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy anh Y có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị X anh Y đã mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị X là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Chị X anh Y có 01 con chung là cháu Trần Võ Tường Vy, sinh ngày 26/02/2011. Cháu Vy còn nhỏ và là bé gái, khi chị X ly thân với anh Y, cháu Vy vẫn được chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và vẫn phát triển bình thường. Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Vy cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh Y không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Yêu cầu của chị X về phần này là có cơ sở chấp nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Liệp xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

- Về án phí: Chị Võ Thị X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị X đối với bị đơn anh Trần Lâm Y về việc tranh chấp ly hôn

Tuyên xử:

Chị Võ Thị X, sinh năm 1988 được ly hôn với anh Trần Lâm Y, sinh năm 1982.

Giao con chung là Trần Võ Tường Vy, sinh ngày 26/02/2011 cho chị Võ Thị X trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Lâm Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Trần Lâm Y được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Võ Thị X phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 003059 ngày 08/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị X đã nộp đủ án phí theo quy định.

Chị Liệp được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, anh Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ