vanban.org

Bản án 1134/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh H được ly hôn ông Lê Anh K. Giấy chứng nhận kết hôn số 342, do Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25 tháng 12 năm 2017 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1134/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13/8/2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đâu.

2. Ông Nguyễn Ngọc Thư.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 389/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 339/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 267/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H. Sinh năm 1982. Thường trú: XX Chiến Lược, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: YY Phùng Tá Chu, phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Anh K. Sinh năm 1975. Thường trú: XX Chiến Lược, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: YY Chiến Lược, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn: Theo bà Trần Thị Thanh H thì bà và ông Lê Anh K tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 342, do Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25 tháng 12 năm 2017.

Quá trình chung sống càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do có nhiều điểm bất đồng, từ đó gây ra nhiều mâu thuẫn. Hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Hiện tại hai bên đã sống ly thân. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm đôi bên không còn nên bà Trần Thị Thanh H yêu cầu được ly hôn với ông Lê Anh K.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Trần Mỹ K1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Trần Mỹ K2, sinh ngày 25/3/2020, bà Trần Thị Thanh H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Lê Anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn: Ông Lê Anh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại các Phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 16/5/2024 và ngày 12/6/2024.

Tòa án đã thu thập chứng cứ:

Theo xác minh ngày 04/4/2024 của Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, thì ông Lê Anh K có cư trú tại 51/18/61 Chiến Lược, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo văn bản tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12/4/2024, thì vợ cH bà H, ông K không chung sống từ tháng 10/2023 đến nay, 2 con chung đang ở với mẹ. Hai vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự thống nhất trong cuộc sống gia đình, không mang lại hạnh phúc. Đương sự chưa từng giải quyết tranh chấp liên quan giữa bà H, ông K.

Bà Trần Thị Thanh H đã nộp Bản tự khai ngày 17/4/2024 và Đơn xin vắng mặt ngày 20/6/2024, xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin vắng mặt tại các phiên tòa của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa, ông Lê Anh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn đã chấp hành các quy định tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành các quy định về tố tụng dân sự. Vụ án đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Xét đơn xin ly hôn của bà Trần Thị Thanh H cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”; bị đơn là ông Lê Anh K có nơi cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, bà Trần Thị Thanh H có đơn xin vắng mặt, ông Lê Anh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Thanh H và ông Lê Anh K.

Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thanh H đối với ông Lê Anh K, qua lời trình bày của bà thì trong quá trình chung sống, vợ cH ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay bà Trần Thị Thanh H vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn. Ông Lê Anh K đã được triệu tập hợp lệ để hòa giải và mở phiên tòa nhưng đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi được ý kiến của ông Lê Anh K. Theo xác minh địa phương thì hai vợ cH không có tiếng nói chung, không có sự thống nhất trong cuộc sống gia đình, không mang lại hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Thanh H và ông Lê Anh K không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thanh H.

Về con chung: Có 2 con chung tên Lê Trần Mỹ K1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Trần Mỹ K2, sinh ngày 25/3/2020, bà Trần Thị Thanh H yêu cầu được trực tiếp nuôi 2 con chung, không yêu cầu ông Lê Anh K cấp dưỡng nuôi con. Theo xác minh địa phương thì hiện 2 con đang sống với bà H, ông K không còn sống chung từ tháng 10/2023, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông K, nên chấp nhận yêu cầu này của bà H, giao 2 con chung cho bà H nuôi dưỡng, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thanh H xác định về tài sản chung và nợ chung: không có; Ông Lê Anh K vắng mặt, không ghi được ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là phù hợp quy định của pháp luật, nên thống nhất.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 19, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thanh H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh H được ly hôn ông Lê Anh K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 342, do Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25 tháng 12 năm 2017 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Trần Mỹ K1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Trần Mỹ K2, sinh ngày 25/3/2020, cho bà Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thanh H xác định về tài sản chung và nợ chung: không có; Ông Lê Anh K vắng mặt, không ghi được ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012129 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

II. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ