vanban.org

Bản án 113/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 06/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc L;

Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huy D Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 đối với bị cáo Trần Kim C; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc L;
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HS-ST
Ngày: 06/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Quỳnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Minh Thân, ông Lê Minh Hiệp

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Phúc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Vũ Thị Ngọc L, sinh ngày 22/6/1985, tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố số 1, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quang V và con bà Võ Thị M; chồng, con: không có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Ngày 15/4/2004, Công an huyện Từ Liêm, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, mức phạt 100.000 đồng;

- Ngày 16/01/2020, bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng (ngày 03/9/2021 đã chấp hành xong);

- Bản án số 324/HSST ngày 12/10/2007 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xử phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 27/01/2013. (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 31/12/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Huy D, sinh ngày 03/12/1975, tại Hà Nội, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: P101-E4 Tập thể Vĩnh Hồ, phường Trung Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy S và con bà Nguyễn Thị H; Vợ: không có, con: có 02 con (con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 16/01/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng (ngày 04/4/2021 đã chấp hành xong).

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 31/12/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Kim C, sinh ngày 21/4/1990, tại Hà Nội; ; Nơi cư trú: không xác định, Nơi ở: TDP Hạnh, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Q và con bà Phạm Thị L (đã chết); chồng, con: chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 260/2022/HSST ngày 17/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 12/11/2023(chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

- Ngày 25/4/2019, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng.

- Bản án số 41/2012/HSST ngày 13/3/2012 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xử phạt 25 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 18/8/2013 (đã được xóa án tích);

- Bản án số 245/2014/HSST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội, xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 30/11/2017. (đã được xóa án tích);

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 31/12/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Hạ Huy M, sinh ngày 03/01/1990, tại Hà Nội, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Và, xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hạ Huy B và con bà Nguyễn Thị Ng; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 30/3/2023, bị Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”, mức phạt 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 31/12/2024. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, Công an phường Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực phía sau khu đô thị Vinhomes Smart City thuộc phường Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội, phát hiện Hạ Huy M có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, M khai là người nghiện ma túy và đang cất giấu 01 gói ma túy tại chỗ ở của M cùng với bạn gái tên là Trần Kim C ở địa chỉ: Tổ dân phố Hạnh, phường Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tiến hành dẫn giải M xác định nơi cất giấu ma túy, Cơ quan Công an đã thu giữ được 01 gói nilong màu đỏ chứa chất bột màu trắng (M khai là ma túy). Sau đó, Cơ quan Công an tiếp tục rà soát người ở cùng với M là Trần Kim C đang bán hàng tại khu vực số 368 đường Hoàng Tùng, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội, phát hiện và thu giữ của C được 01 gói nilong màu trắng chứa chất bột màu trắng, C khai là ma túy mua của Vũ Thị Ngọc L tại Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Cơ quan Công an đã rà soát theo địa chỉ trên phát hiện Vũ Thị Ngọc L đang ở cùng với Nguyễn Huy D tại địa chỉ số nhà 5 ngách 49/124 Hòe Thị, Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của L và D đã thu giữ của Vũ Thị Ngọc L: 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 05 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng; 01 lọ nhựa màu xanh bên trong có 08 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng; 04 túi nilong màu trắng kích thước (3x6)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 túi nilong màu trắng kích thước (10x6)cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 hộp kim loại màu vàng; 01 cân điện tử màu đen và 01 điện thoại Samsung Galaxy A24.

Thu giữ của Trần Kim C: 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại OPPO A38. Thu giữ của Hạ Huy M: 01 gói nilong màu đỏ bên trong là chất bột màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

- “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu đỏ thu giữ của Hạ Huy M là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,135 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng thu giữ của Trần Kim C là ma túy loại Heroine, khối lượng: 1,398 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 13 gói giấy bạc và 05 túi nilong màu trắng thu giữ của Vũ Thị Ngọc L đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 13,333 gam và 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Heroine”.

Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Huy D sinh sống tại nhà của mình ở số 5/49/124 Hòe Thị, Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội và là người nghiện ma túy. Năm 2019, D đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội thì quen biết Vũ Thị Ngọc L cũng là người đang cai nghiện ma túy, sau đó D và L có tình cảm với nhau nên đến tháng 4 năm 2021, sau khi cai nghiện xong D đã rủ L về ở cùng với D tại số 5/49/124 Hòe Thị, Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Sau khi D và L về ở chung với nhau, hàng ngày L là người quản lý tiền C tiêu sinh hoạt chung cho cả hai người. Khoảng đầu tháng 12/2024, L sử dụng lại ma túy, nhưng không có việc làm và không có tiền C tiêu nên L đã nảy sinh ý định mua ma túy Heroine về Ca nhỏ để bán kiếm lợi. Do L đang ở cùng D nên D biết việc L Ca nhỏ, cân đo ma túy tại nhà của D, nhưng L đã nói với D: “Em làm để em lấy cái chơi, anh không liên quan gì cả”. D hiểu ý L mua bán ma túy để có tiền sử dụng ma tuý nên để L thực hiện việc mua bán ma túy tại nhà của mình. D biết L thường cất giấu ma túy tại khu vực gầm cầu thang gác xếp trong nhà và có thỉnh thoảng lén lấy ma túy của L để tự sử dụng một mình (D không nhớ ngày sử dụng, sử dụng như thế nào và không biết là loại ma túy gì). L thường mua ma túy của người phụ nữ tên Vân (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực gầm cầu vượt đường Trịnh Văn Bô, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội mang về nhà của D tại số 5/49/124 Hòe Thị để Ca nhỏ ra bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ ngày 28/12/2024, L đi ra khu vực gầm cầu vượt đường Trịnh Văn Bô, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội gặp Vân và hỏi mua của Vân 10.000.000 đồng tiền Heroine, L đưa tiền mặt cho Vân và được Vân bán cho 01 gói Heroine được bọc bằng túi nilong và giấy trắng. Đến 20 giờ cùng ngày, L mang gói Heroine mua của đối tượng Vân ra sàn nhà tầng 1 số 5/49/124 Hòe Thị dùng dao lam (loại dao cạo râu) và cân điện tử để Ca số ma túy thành 19 gói để bán. Khi L Ca ma túy thì D đi từ ngoài về nhà và biết toàn bộ sự việc L Ca ma túy, nhưng không có ý kiến gì.

Đối với Trần Kim C và Hạ Huy M là những người nghiện ma túy, quen biết nhau tại Cơ sở cai nghiện số 2 Hà Nội và có tình cảm với nhau nên đã về sống chung với nhau như vợ chồng (nhưng không đăng ký kết hôn) tại khu vực Gò Đống Sang, tổ dân phố Hạnh, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Hàng ngày C bán quán nước còn M đi làm bảo vệ, cả 2 thống nhất tiền kiếm được sẽ đưa cho C quản lý C tiêu chung (trong đó có cả việc mua ma túy Heroine về Ca nhau sử dụng). Do trước đó C có quen biết với Vũ Thị Ngọc L và biết L có bán ma túy nên trong 02 ngày 28/12/2024 và 29/12/2024, C đã 2 lần sử dụng tài khoản Facebook “Kim C Trần” của C liên lạc đến tài khoản Facebook “L Vịt” của L để mua ma túy của L, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 28/12/2024, Trần Kim C đã liên lạc với Vũ Thị Ngọc L hỏi mua 500.000 đồng tiền Heroine, nhưng C chưa có tiền trả nên đã nói với L “hôm sau có tiền mua tiếp thì sẽ trả”, L đồng ý. Sau đó, C đi đến trước cổng nhà số 5/49/124 Hòe Thị gặp L. Tại đây, L đã lấy gói ma túy Heroine mua của Vân để Ca ra 01 “tép” nhỏ Heroine với giá 100.000 đồng để bán cho C. Sau khi mua được ma túy, C mang số ma túy này đến khu vực đường Hoàng Tùng, xã An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội sử dụng hết.

- Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 29/12/2024, Trần Kim C tiếp tục liên lạc với Vũ Thị Ngọc L để mua 2.500.000 đồng tiền Heroine (C bảo với L tính cả tiền mua ma túy ngày 28/12/2024 thì L đồng ý). Sau đó, L hẹn C đến trước cổng nhà số 5/49/124 Hòe Thị để giao dịch. Sau khi trao đổi mua bán với L xong, C rủ Hạ Huy M đi mua ma túy cùng, M đồng ý. Sau đó, M mượn xe máy chở C đến đầu ngõ rẽ vào nhà L thì dừng lại để C đi bộ vào cổng nhà L, còn M ở ngoài đợi C. Sau đó, C đi vào cổng nhà số 5/49/124 Hòe Thị gặp L thì thấy L đã đợi sẵn, C trả cho L 2.500.000 đồng và được L bán cho 01 gói ma túy Heroine (khối lượng 1,533 gam). Sau khi mua được ma túy, C và M mang ma túy về nhà trọ tại tổ dân phố Hạnh, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tại đây, C đã Ca gói ma túy Heroine thành 02 gói, 01 gói C đưa cho M để M sử dụng và 01 gói C cất giữ để sử dụng. Sau khi được C đưa gói Heroine, M đã cất giấu gói ma túy tại nhà ở Gò Đống Sang, phường Tây Mỗ để sử dụng. Còn C mang gói Heroine đến khu vực số 368 đường Hoàng Tùng, xã An Khánh, Hoài Đức cất giấu vào quầy hàng để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, khi M đang đi bộ ở khu vực đường phía sau khu đô thị Vinhomes Smart City thuộc phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội thì bị Công an phường Xuân Phương kiểm tra phát hiện, từ lời khai của M, Cơ quan Công an đã thu giữ được 01 gói ma túy của M và thu giữ 01 gói ma túy của C. Tiếp tục mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của L và D tại địa chỉ số 5/49/124 Hòe Thị và thu giữ được 18 gói ma túy cùng 01 Cếc cân điện tử mà L đã dùng để Ca ma túy bán kiếm lời.

Đối với người phụ nữ tên Vân (không rõ nhân thân, lai lịch) người bán ma túy cho L ở khu vực gầm cầu vượt đường Trịnh Văn Bô, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã phối hợp cùng Công an phường Xuân Phương tiến hành rà soát tại khu vực gầm cầu vượt Trịnh Văn Bô và khu vực xung quanh nhưng không có phát hiện gì nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ để xử lý.

Đối với hành vi của Trần Kim C về việc mua ma túy của L vào ngày 28/12/2024 để sử dụng, tuy nhiên C đã sử dụng hết nên không có căn cứ xử lý.

Đối với việc C cung cấp ma túy cho M để sử dụng, tuy nhiên M chưa sử dụng nên chưa đủ căn cứ để xử lý C về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Thị Ngọc L, Nguyễn Huy D, Trần Kim C và Hạ Huy M khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Thị Ngọc L, Nguyễn Huy D về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố Trần Kim C và Hạ Huy M về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Vũ Thị Ngọc L, Nguyễn Huy D, Trần Kim C, Hạ Huy M và đề nghị:

- Áp dụng khoản điểm b, i, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Thị Ngọc L từ 08 năm đến 09 năm tù;

- Áp dụng khoản điểm b, i, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Huy D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Kim C từ 26 đến 30 tháng tù;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Hạ Huy M từ 18 đến 21 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng. Buộc bị cáo Vũ Thị Ngọc L nộp sung ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng được hưởng lợi bất chính. Về tang vật: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A24 thu giữ của Vũ Thị Ngọc L và 01 điện thoại OPPO A38 thu giữ của Trịnh Kim C.

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp nhau và phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Đầu tháng 12/2024, Vũ Thị Ngọc L đã nảy sinh ý định mua ma túy Heroine về Ca nhỏ để bán kiếm lời. Do ở cùng nhà với Nguyễn Huy D tại số 5/49/124 Hòe Thị, Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, L đã nói với D “Em làm để em lấy cái chơi, anh không liên quan gì cả”, D đồng ý để L thực hiện việc mua bán ma túy tại nhà của mình. Khoảng 18 giờ ngày 28/12/2024, L đi đến khu vực gầm cầu vượt đường Trịnh Văn Bô, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội gặp một người phụ nữ tên Vân (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua của Vân 10.000.000 đồng được 14,866 gam ma túy loại Heroine và mang về Ca số ma túy tại phòng ngủ của D, D biết nhưng không có ý kiến gì. Sau khi mua được ma túy ngày 28/12/2024 và 29/12/2024, L đã hai lần bán ma túy cho Trần Kim C, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 28/12/2024, tại khu vực số 5/49/124 Hòe Thị, Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Vũ Thị Ngọc L đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Trần Kim C. Sau khi mua được ma túy, C đã mang số ma túy này đến khu vực đường Hoàng Tùng, xã An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội sử dụng hết.

- Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 29/12/2024, tại khu vực số 5/49/124 Hòe Thị, Tổ 5 Hòe Thị, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Vũ Thị Ngọc L đã có hành vi bán trái phép 1,533 gam ma túy loại Heroine cho Trần Kim C. Sau đó, C mang về Ca cho Hạ Huy M 0,135 gam Heroine để sử dụng, còn 1,398 gam Heroine C tàng trữ để sử dụng.

Số ma túy còn lại là 13,333 gam Heroine, Vũ Thị Ngọc L cất dấu tại nhà của Nguyễn Huy D với mục đích để bán.

Hành vi của các bị cáo Vũ Thị Ngọc L và Nguyễn Huy D đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của Trần Kim C, Hạ Huy M đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy.Các bị cáo đều có nhân thân xấu, từng được đi cai nghiện ma túy nhiều lần, nhận thức rõ được tác hại của ma túy, bị cáo L, C từng đi cải tạo nhiều lần về hành vi cùng loại, biết rõ giao dịch mua bán ma túy, tàng trữ ma túy để sử dụng là trái phép nhưng chỉ vì không có tiền C tiêu sinh hoạt cá nhân và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy mà các bị cáo L, D vẫn cố ý mua ma túy và bán trái phép cho Trần Kim C, Hạ Huy M tàng trữ để sử dụng. Với mức độ nguy hiểm của hành vi, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt hình phạt tù nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo, HĐXX nhận thấy các bị cáo đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo L và bị cáo D đồng phạm với nhau trong việc thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo L là người chủ mưu, tìm nguồn mua bán ma túy, bị cáo D giúp sức cho L để L bán ma túy cho C, M sử dụng nên bị cáo L có vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo C và bị cáo M cùng thống nhất trong việc mua ma túy về sử dụng trong đó bị cáo C là trực tiếp đi mua ma túy và Ca cho M để M sử dụng nên bị cáo C có vai trò cao hơn và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo M.

. Về tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo L, D, M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo C chưa được xóa án tích nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D có bố là thương binh nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại OPPO A38 thu giữ của Trần Kim C và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A24 màu xanh thu giữ của Vũ Thị Ngọc L là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Quá trình điều tra xác định, bị cáo Vũ Thị Ngọc L được hưởng hợi 2.500.000 đồng từ giao dịch mua bán ma túy với Trần Kim C nên cần phải giao nộp số tiền 2.500.000 đồng sung quỹ nhà nước.

. Về án phí: Các bị cáo Vũ Thị Ngọc L, Trần Kim C, Nguyễn Huy D, Hạ Huy M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ:

+ Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc L;

+ Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huy D

+ Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 đối với bị cáo Trần Kim C;

+ Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 đối với bị cáo Hạ Huy M.

Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Ngọc L và Nguyễn Huy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Kim C và Hạ Huy M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: bị cáo Vũ Thị Ngọc L 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.

- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Huy D 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.

- Xử phạt: bị cáo Trần Kim C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.

- Xử phạt: bị cáo Hạ Huy M 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong trên có chữ ký Hạ Huy M, Trần Đăng Khoa, Trần Huy Vũ và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan công an.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì con nguyên niêm phong trên có chữ ký giáp lai của Trần Kim C, Trần Đăng Khoa, Trần Huy Vũ và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan công an.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 hộp kim loại màu vàng còn nguyên giấy niêm phong trên có chữ ký của Vũ Thị Ngọc L, Trần Đăng Khoa, Trần Huy Vũ và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Công an.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại OPPO A38, số Imei: 869511067966651 gắn 01 sim vật lý và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A24 màu xanh, số Imei: 350532454447614 gắn 01 sim vật lý.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại C cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2025).

- Buộc bị cáo Vũ Thị Ngọc L truy nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng.

- Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Ngọc L, Nguyễn Huy D, Trần Kim C, Hạ Huy M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thị Ngọc L, Nguyễn Huy D, Trần Kim C, Hạ Huy M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ