- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn T xin ly hôn chị Ho Hsiu Ling"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T ly hôn chị Ho Hsiu L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-4-2024 “v/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Nguyên Đăng và bà Ngô Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 299/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Slovakia. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Người được nguyên đơn ủy quyền về việc giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án là: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số nhà B, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Ho Hsiu L (tên gọi khác là Hồ Tú L1), sinh năm 1979; Quốc tịch: Đài Loan (Trung Quốc); nơi cư trú: Số A L, khóm C, phường V, khu T, T, Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh và chị H1 Hsiu Ling kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh B vào ngày 28/5/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống cùng nhau được khoảng 01 năm tại thành phố C, tỉnh Hải Dương. Cuối năm 2016, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên anh chị không còn chung sống, không quan tâm đến nhau nữa. Chị Ho Hsiu L đã quay lại Đài Loan sinh sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên bảo, động viên nhưng mâu thuẫn của hai anh chị vẫn không cải thiện được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Ho Hsiu L.
Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, nợ chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh T vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Chị Ho Hsiu L vắng mặt 02 lần không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự cơ bản chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T ly hôn chị Ho Hsiu L. Về án phí, lệ phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và lệ phí ủy thác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T hiện đang sinh sống và làm việc tại Slovakia, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Chị Ho Hsiu L có quốc tịch Đài Loan, hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T cung cấp địa chỉ của chị Ho Hsiu L là tại số A L, khóm C, phường V, khu T, T, Đài Loan. Tòa án đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp đến Bộ Tư pháp để thực hiện ủy thác theo quy định của pháp luật. Ngày 18/3/2024, Bộ Tư pháp có Văn bản số 546/BTP-PLQT thể hiện Bộ Tư pháp nhận được Văn bản số 1130050152 ngày 05/01/2024 của Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp đối với chị Ho Hsiu L. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 07/12/2023 bằng phương thức gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn Công an. Tuy nhiên đến ngày xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương không nhận được quan điểm, ý kiến của chị Ho Hsiu L. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Ho Hsiu L vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị H1 Hsiu Ling kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh B vào ngày 28/5/2015 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh T và chị H1 Hsiu Ling chung sống cùng nhau tại thành phố C, tỉnh Hải Dương được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh T trình bày là do tính cách và quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Cuối năm 2016, chị Ho Hsiu L đã quay trở lại Đài Loan sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị Ho Hsiu L đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho anh T được ly hôn chị H1 Hsiu Ling là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Anh T và chị H1 Hsiu Ling không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí, lệ phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T ly hôn chị Ho Hsiu L.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số AA/2022/0000840 ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại chi Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh T đã nộp đủ.
Về lệ phí ủy thác tư pháp: Anh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0002417 ngày 28 tháng 7 năm 2023. Anh T đã nộp đủ.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T, chị H1 Hsiu Ling vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND tỉnh Bình Phước; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |