vanban.org

Bản án 113/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 20/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc H (tên gọi khác là L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mau bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc H (tên gọi khác là L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B
Bản án số: 113/2023/HSST
Ngày: 20-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X,

TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trần Hiển

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Văn Phú Hiên

2. Bà Ngô Thị Quốc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Quốc H (tên gọi khác là L), sinh năm 1996 tại tỉnh B. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố L, thị trấn P, huyện X, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D, năm sinh 1972 và bà Dương Thị V, năm sinh 1971; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 07/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện X xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 38/2018/HSST, chấp hành xong ngày 25/01/2022; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 28/6/2023. “Có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Dương Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh B, vắng mặt.

- Ông Phạm Văn D, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn P, huyện X, tỉnh B, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2023, Công an huyện X phối hợp với Công an xã P, huyện X đi tuần tra trên địa bàn, khi đến ngã tư T giao với Đường số B thuộc khu phố L, thị trấn P, huyện X thấy Phạm Quốc H đang điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng đen, biển số 72K1-100.14 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Thấy vậy, H ném 01 gói nylon chứa ma túy xuống đất gần vị trí mình đứng thì bị bắt quả tang. Qua làm việc, H khai nhận ngày 26/6/2023 H mua ma túy của một người thanh niên, không rõ lai lịch với giá 500.000 đồng, ngày 27/6/2023 H sử dụng một ít, còn lại cất giấu. Khoảng 10 giờ ngày 28/6/2023, có một thanh niên điện thoại hỏi mua 200.000 đồng ma túy, H đồng ý và trên đường đi giao ma túy thì bị phát hiện bắt giữ. Tiến hành khám xét nơi ở của H thu giữ 01 nắp nhựa màu trắng có gắn nỏ thủy tinh; 01 chai nhựa number 1; 01 kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống nhựa, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 02 gói nylon được hàn kín 03 đầu, bên trong rỗng; số tiền 15.500.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Quốc H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về kết luận giám định: Tại Bản kết luận giám định số 334/KL-KTHS-MT ngày 06/7/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an thị trấn P-Công an huyện X, tỉnh B, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Phạm Khắc Đ, Phạm Quốc H, Trịnh Văn T1, Nguyễn Văn T2, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu trong suốt gửi đến giám định có khối lượng 0,1548 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (bút lục số 43).

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì màu trắng được niêm phong số vụ 334, ngày 07/7/2023, có in hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ1, Võ Thanh H1, Đỗ Thị Linh S, bên trong mẫu vật đã sử dụng hết cho quá trình giám định;

- 01 điện thoại OPPO A3s màu đỏ, IMEI1: 868125043596739,

- 01 sim số xxxxxxxxxx;

- 01 nắp nhựa màu trắng có gắn nỏ thủy tinh;

- 01 chai nhựa number 1;

- 01 kéo bằng kim loại;

- 01 đoạn ống nhựa, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn;

- 02 gói nylon được hàn kín 03 đầu, bên trong rỗng;

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đen, biển số 72K1-100.14, số khung 5P10CY075348, số máy 55P1-075347, qua xác minh xe do Dương Thanh T, sinh năm 1974, trú tại thị trấn L, huyện L đứng tên chủ sở hữu. Năm 2022, ông T bán xe trên cho ông Phạm Văn D (cha của H), không làm giấy tờ sang tên. Ông D không biết H dùng xe làm phương tiện phạm tội. Toàn bộ vật chứng hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện X đang tạm giữ.

- Số tiền 15.500.000 đồng đã trả lại cho H.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đề nghị trả lại xe mô tô, biển số 72K1-100.14 cho cha của H là ông Phạm Văn D, vì xe của ông D mua của người khác; các vật chứng còn lại đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật; Kiểm sát viên đề nghị trả lại xe mô tô cho ông D; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại OPPO là công cụ, phương tiện phạm tội; các vật chứng còn lại đề nghị tịch thu và tiêu hủy, vì vật không còn giá trị sử dụng.

Tại Bản cáo trạng số 108/CT-VKS-XM, ngày 25-10-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện X truy tố Phạm Quốc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Quốc H: Trong thời gian tạm giam bị cáo biết lỗi, xin xử mức án nhẹ để sớm về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, xét thấy: Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2023, Công an huyện X phối hợp với Công an xã P, huyện X đi tuần tra trên địa bàn, khi đến ngã tư T giao với Đường số B thuộc khu phố L, thị trấn P, huyện X thì phát hiện bị cáo H điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng đen, biển số 72K1-100.14 cất giấu 01 gói ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,1548 gam để bán cho người khác với giá 200.000 đồng. Hành vi bị cáo cất giấu ma túy để bán cho người khác đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về hành vi, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm công tác quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an tại địa phương; biết rõ việc mua bán ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện để thu lợi bất chính. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và không xử phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong số vụ 334, ngày 07/7/2023, có in hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ1, Võ Thanh H1, Đỗ Thị Linh S, bên trong mẫu vật đã sử dụng hết cho quá trình giám định; 01 nắp nhựa màu trắng có gắn nỏ thủy tinh; 01 chai nhựa number 1; 01 kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống nhựa, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 02 gói nylon được hàn kín 03 đầu, bên trong rỗng là vật không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại OPPO A3s màu đỏ, IMEI1: 868125043596739 và 01 sim số xxxxxxxxxx là công cụ, phương tiện phạm tội.

- Hoàn trả cho ông Phạm Văn D 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đen, biển số 72K1-100.14, số khung 5P10CY075348, số máy 55P1-075347 là chủ sở hữu.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như nhận định của Hội đồng xét xử là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc H (tên gọi khác là L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong số vụ 334, ngày 07/7/2023, có in hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ1, Võ Thanh H1, Đỗ Thị Linh S, bên trong mẫu vật đã sử dụng hết cho quá trình giám định; 01 nắp nhựa màu trắng có gắn nỏ thủy tinh; 01 chai nhựa number 1; 01 kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống nhựa, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 02 gói nylon được hàn kín 03 đầu, bên trong rỗng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại OPPO A3s màu đỏ, IMEI1: 868125043596739 và 01 sim số xxxxxxxxxx.

- Hoàn trả cho ông Phạm Văn D 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đen, biển số 72K1-100.14, số khung 5P10CY075348, số máy 55P1-075347.

(Toàn bộ vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 08/BB ngày 27/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).

Án phí: Bị cáo Phạm Quốc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ