vanban.org

Bản án 113/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hạng A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hạng A N 06 (Sáu) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 20/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hạng A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2023/HS-ST
Ngày 27 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Hoàng Thị Mai Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thuỷ, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 116/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với:

Hạng A N, sinh năm: 1955 tại huyện B, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hạng A C và bà Thào Thị M (đều đã chết); có vợ là Sồng Thị S (đã chết), có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 62/2006/HSST ngày 15/01/2007 của Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích), tại Quyết định số 138/QĐ-TA ngày 03/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (đã được xoá tiền sự); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2022 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Hạng A N nghiện chất ma tuý. Khoảng 12 giờ ngày 20/12/2022, Hạng A N mang theo số tiền 1.000.000 đồng đi đến khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản C, xã C, huyện M, mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Trên đường đi đến bản C, Hạng A N gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 70 viên hồng phiến (Methamphetamine) và 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng Heroine với giá 1.000.000 đồng. Hạng A N cất giấu số ma tuý mua được trong túi áo khoác bên trái trước ngực rồi đi bộ về đến bản P, xã L, huyện Mộc Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Hạng A N: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 70 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine; 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine.

Ngày 20/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Hạng A N như sau: 70 viên nén màu hồng có khối lượng 7,2 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,51 gam làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu N1; chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,71 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu N2.

Tại Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N1 là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu N2 là ma tuý, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,71 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 7,2 gam, loại Methamphetamine và 0,71 gam, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu N2 không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,55 gam”.

Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 04/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Hạng A N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hạng A N trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hạng A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

- Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hạng A N từ 06 năm đến 07 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Căn cứ c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng 65 viên nén = 6,69 gam (Methamphetamine), 01 túi nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 0,55 gam Heroine không sử dụng đến trong quá trình giám định và phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hạng A N.

- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hạng A N.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Hạng A N nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Hạng A N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu thu giữ vào ngày 20/12/2022 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 1.000.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mộc Châu lập vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 20/12/2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hạng A N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 20/12/2022 bị cáo Hạng A N đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,71 gam Heroine và 7,2 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Căn cứ Điều 4 Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma tuý Heroine và Methamphetamine thu giữ của Hạng A N là 0,71 gam + 7,2 gam = 7,91 gam.

Do đó, hành vi của bị cáo Hạng A N đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Có 01 tiền án về tội phạm ma tuý (đã được xoá án tích), có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã được xoá tiền sự). Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tài sản gì có giá trị, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng 65 viên nén = 6,69 gam (Methamphetamine), 01 túi nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 0,55 gam Heroine không sử dụng đến trong quá trình giám định và phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hạng A N. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Hạng A N có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy bị cáo Hạng A N là người cao tuổi, người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hạng A N như N khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Về thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo còn trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không phải ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hạng A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hạng A N 06 (Sáu) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 20/12/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 65 viên nén = 6,69 gam (Methamphetamine), 01 túi nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 0,55 gam Heroine không sử dụng đến trong quá trình giám định và phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hạng A N.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 110/BBVC-CCTHA ngày 07/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).

3. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hạng A N.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ