- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 23/8/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2023/HS-ST Ngày 18-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Khánh.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Ngô Văn L, sinh năm 1984 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quý B và bà Vũ Thị N; vợ là Lê Thị L và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 23/8/2023 và bị tạm giam từ ngày 29/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ dân T, phường M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/8/2023, Công an xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực bờ hồ thuộc thôn Thụy Sơn 1, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng phát hiện Ngô Văn L điều khiển xe mô tô biển số 90F7-97xx đang dừng trên đường có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong lòng bàn tay phải của L có 01 gói bọc ngoài bằng băng dính đen, mở ra bên trong là gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng, L khai nhận là Heroine vừa mua để sử dụng. Lực lượng Công an đã mời người chứng kiến, đưa L về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tân Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng, tài sản đã thu giữ gồm: Thu trong lòng bàn tay phải của Ngô Văn L 01 gói bọc ngoài bằng băng dính đen, mở ra bên trong là gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01. Thu trong túi quần bên trái phía trước L đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02. Tạm giữ của L 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, đeo biển số 90F7-97xx.
Tại bản Kết luận giám định số 577/KL-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,157g (không phẩy một trăm năm mươi bảy gam) loại: Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Ngô Văn L đều khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, L gọi điện đến số thuê bao 0378166292 của một người đàn ông (L không biết tên, tuổi và lai lịch cụ thể) hỏi mua ma túy sử dụng. Khi điện thoại, L hỏi “Có hàng không, để tôi một cái” thì người này bảo “Một trăm một quả, ra bờ hồ Tân Sơn”. Sau đó, L xóa lịch sử cuộc gọi rồi điều khiển xe mô tô biển số 90F7-97xx đi từ nhà đến khu vực bờ hồ thuộc thôn Thụy Sơn 1, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng thì thấy một người đàn ông đang đứng ở đó nên L đi đến gần và nói “Cho tôi một cái”, người này nói “Đưa tiền đây” thì L đưa cho người đó 100.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho L 01 gói bên ngoài bọc băng dính đen. L cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải, còn người đàn ông điều khiển xe mô tô đi đâu không rõ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, L chuẩn bị điều khiển xe mô tô đi về tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKSKB ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói mẫu vật; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại Samsung Galaxy A51; trả lại cho ông Lê Xuân H 01 chiếc xe mô tô biển số 90F7-97xx.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn L khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Xuân H trình bày: Ông là bố vợ của bị cáo Ngô Văn L và là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển số 90F7-97xx. Trước đây ông có cho vợ chồng bị cáo L mượn chiếc xe này để làm phương tiện làm ăn. Ngày 23/8/2023 bị cáo L sử dụng xe vào việc phạm tội thì ông không biết, nay ông đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe nêu trên cho ông để làm phương tiện đi lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Ngô Văn L tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 10 giờ ngày 23/8/2023, tại đoạn đường khu vực bờ hồ thuộc thôn Thụy Sơn 1, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, bị cáo Ngô Văn L đang cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,157 gam với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng bắt quả tang.
Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lí chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới nếp sống văn minh, lành mạnh cũng như gây mất ổn định tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do đó miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo L khai mua của một người đàn ông không quen biết, L chỉ biết người này sử dụng số thuê bao điện thoại 0378166292 do một số bạn nghiện giới thiệu. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xác định số điện thoại 0378166292 đăng ký chủ thuê bao là anh Võ V, sinh năm 1978, trú tại ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang, tuy nhiên anh V xác định từ trước đến nay không đăng ký sử dụng và không sử dụng số thuê bao này. Ngoài lời khai của L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với số Heroine đã thu giữ gửi đi giám định được hoàn trả lại là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc xe mô tô biển số 90F7-97xx là tài sản hợp pháp của ông Lê Xuân H (bố vợ bị cáo L) cho vợ chồng L mượn, sáng ngày 23/8/2023 L sử dụng xe vào việc phạm tội thì ông H không biết, do vậy cần trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho ông H.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 23/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu huỷ số ma túy được niêm phong trong phong bì có số 577/KTHS, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 màu đen, màn hình cảm ứng bị vỡ; điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho ông Lê Xuân H 01 chiếc xe mô tô dán nhãn Wave sơn màu xanh, BKS: 90F7-97xx, số khung: 034PD426594, số máy: 40026594 xe cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS huyện Kim Bảng; - Công an huyện Kim Bảng; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thạo |