vanban.org

Bản án 113/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Hữu D.

Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Nguyễn Lê Kiều A – sinh ngày 30/11/201x cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Hữu D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Hữu D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 113/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 – 4 – 2023
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Ngọc.

- Ông Trần Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Dung - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Nam – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 75/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H. Sinh năm 199x. Địa chỉ: thôn TV, xã TL, huyện ML, thành phố HN. Vắng mặt tại phiên toà (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu D. Sinh năm 198x. Địa chỉ: Xóm NT, xã GSĐ, huyện ĐL, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là bà Lê Thị Thu H trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 25/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện ML, thành phố HN. Việc kết hôn giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D là trên tinh thần tự nguyện của hai bên, không bị ai ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Đến nay, bà Lê Thị Thu H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Hữu D.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D có 01 con chung là Nguyễn Lê Kiều A – sinh ngày 30/11/201x. Bà Lê Thị Thu H đề nghị Tòa án giao con chung cho cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và bà Lê Thị Thu H không yêu cầu ông Nguyễn Hữu D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, bị đơn là ông Nguyễn Hữu D trình bày như sau: Ông Nguyễn Hữu D và bà Lê Thị Thu H kết hôn ngày 25/5/2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện ML, thành phố HN. Vợ chồng sống hành phúc từ khi kết hôn đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Từ tháng 10/2018 đến nay vợ chồng sống ly thân. Ông Nguyễn Hữu D thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Thu H

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Nguyễn Hữu D và bà Lê Thị Thu H có 01 con chung là Nguyễn Lê Kiều A – sinh ngày 30/11/201x. Ly hôn thì ông Nguyễn Hữu D đề nghị Tòa án giao con chung cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Hữu D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Hữu D.

- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Nguyễn Lê Kiều A – sinh ngày 30/11/2015 cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Hữu D.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thu H, ông Nguyễn Hữu D đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Nguyễn Hữu D có địa chỉ tại xóm NT, xã GSĐ, huyện ĐL, tỉnh NA. Bà Lê Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Hữu D, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Vụ án ly hôn giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án thì các đương sự đã có ý kiến trình bày đầy đủ, việc vắng mặt của các đượng sự tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H, ông Nguyễn Hữu D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 25/5/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã TL, huyện ML, thành phố HN, do đó hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D là hợp pháp.

Hội đồng xét xử thấy bà Lê Thị Thu H, ông Nguyễn Hữu D sống ly thân từ năm 2017 - 2018 đến nay và cả hai người đều không chăm lo cho nhau, không người nào có biện pháp để giữ gìn hạnh phúc gia đình, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H và giải quyết cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Hữu D.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D có 01 con chung là Nguyễn Lê Kiều A – sinh ngày 30/11/201x. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Hữu D đều đề nghị Tòa án giao con chung cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Nguyễn Lê Kiều A cũng có nguyện vọng được sinh sống cùng bà Lê Thị Thu H; hơn nữa xét từ năm 2017 – 2018 đến nay, cháu Nguyễn Lê Kiều A sinh sống ổn định với bà Lê Thị Thu H. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển lâu dài của cháu Nguyễn Lê Kiều A nên cần giao cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Nguyễn Lê Kiều A cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Thu H không yêu cầu ông Nguyễn Hữu D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Hữu D.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Hữu D.

2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Nguyễn Lê Kiều A – sinh ngày 30/11/201x cho đến khi đủ 18 tuổi.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Hữu D.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí: Bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà Lê Thị Thu H đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002882 ngày 28/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ