- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn L phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| tßa ¸n nh©n d©n HUYỆN QUỲNH LƢU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2022/HS -ST Ngµy: 19-8-2022 Nh©n danh |
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƢU, TỈNH NGHỆ AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: Ông Trần Ngọc Hà
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Bà Phan Thị Đoá và ông Hồ Thế Thành
Thư ký phiªn tßa: Bà Phan Lệ Giang, Thư ký Tßa ¸n nh©n d©n huyện Quỳnh Lưu.
§¹i diÖn Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiªn tßa: Ông Hồ Kim Trình - KiÓm s¸t viªn.
Trong ngµy 19 th¸ng 8 n¨m 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n H×nh sù thô lý sè 95/2022/TLST - HS ngµy 07 th¸ng 7 n¨m 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 117/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 ®èi víi bÞ c¸o:
Trương Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/12/1959 tại huyện DC, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Xóm A, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An; nghÒ nghiÖp: Thương binh; tr×nh ®é v¨n hãa: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Trương H (đã chết) và bµ Hồ Thị H (đã chết); vợ: Tô Thị L, sinh năm 1963, con: Có 4 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiÒn ¸n, tiền sự, nhân thân: kh«ng; bị cáo bị được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn Hà - Trợ giúp viên pháp lý, Chi
nhánh số 1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. Có mặt
Bị hại: Ông Đinh Thế B, sinh năm 1959 (đã chết)
Người đại diện theo uỷ quyền ngày 16/02/2022 của người bị hại B:
-Anh Đinh Thế T, sinh năm 1984. Có mặt Trú tại: Thôn E, xã QG, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Anh Đoàn Ngọc H, sinh năm 1976. Vắng mặt Trú tại: Khối D, phường CN, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Anh Trương Tuấn A, sinh năm 1984. Vắng mặt Trú tại: Xóm A, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An.
- Trịnh Văn S, sinh năm 1963. Vắng mặt Trú tại: Xóm E, xã DY, huyện DC, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29/01/2022, Trương Văn L không có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1- 613.33 chở phía sau là ông Trịnh Văn S đi từ nhà đến khối 6, thị trấn Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu để mua thực phẩm. Sau đó cả hai đã đến nhà ông Lê Văn T để chơi và ăn uống. Quá trình ăn uống L và ông S có uống bia với ông T. Đến 15 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong thì L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33 chở ông Trịnh Văn S đi về nhà trên đường Quốc lộ 1A theo hướng từ thị trấn Cầu Giát về xã Diễn Trường, huyện Diễn Châu. Trong quá trình di chuyển thì L điều khiển xe mô tô đi ở làn đường dành cho xe thô sơ, khi đi đến km 407+600m, đường Quốc lộ 1A, thuộc thôn 3, xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An thì tại thời điểm này đi phía trước cùng chiều với L có ông Đinh Thế B đang điều khiển xe đạp màu xanh đi ở phần đường dành cho xe thô sơ trên đường Quốc lộ 1A và xe ô tô khách biển kiểm soát 37B-021.15 do anh Nguyễn Quốc C điều khiển di chuyển ở làn đường dành cho xe cơ giới ngoài cùng với tốc độ 74 km/h (trên xe có gắn Camera hành trình) và ngang phía sau xe đạp của ông B. Lúc này, L đang điều khiển xe mô tô đi lên từ phía sau bên phải ô tô và phía sau bên trái xe đạp, đồng thời điều khiển xe mô tô đi ở làn đường dành cho xe thô sơ. Tại vị trí này, khoảng cách giữa xe mô tô của L với xe ô tô và xe đạp là rất gần và không đảm bảo an toàn nhưng L vẫn giữ tốc độ, điều khiển xe mô tô đi lên phía trước. Khi xe mô tô 37F1-613.33 do L điều khiển đi từ phía sau lên ngang phần đuôi xe ô tô 37B-021.15 do anh Nguyễn Quốc C điều khiển, đồng thời ngang vị trí ông Đinh Thế B đang đi xe đạp thì đã xẩy ra va chạm với nhau. Trong đó, xe mô tô của L đã va chạm với xe đạp của ông Đinh Thế B và sau đó va chạm với xe ô tô do Nguyễn Quốc C điều khiển, gây ra vụ tai nạn giao thông. Hậu quả: Trương Văn L, ông Trịnh Văn S và ông Đinh Thế B bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Minh An. Do bị thương nặng nên ông Đinh Thế B bị tử vong cùng ngày; các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đều bị hư hỏng nhẹ.
Sau khi sự việc xẩy ra, Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Nghệ An đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Đồng thời đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Trương Văn L. Kết quả trong hơi thở của Trương Văn L có nồng độ cồn là 1.027 mml/l khí thở.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã tiến hành trưng cầu giám định nguyên nhân chết của ông Đinh Thế B và xác định chiều hướng di chuyển của xe mô tô BKS 37F1-613.33, xe ô tô BKS 37B-021.15 và xe đạp ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn; xác định vị trí va chạm của các phương tiện.
Tại bản giám định pháp y số 48/GĐPY ngày 29/01/2022 của Bệnh viện đa khoa Minh An, xác định: Nạn nhân Đinh Thế B (sinh năm 1959, trú tại thôn E, xã QG, huyện QL, tỉnh Nghệ An) bị tử vong nguyên nhân do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, gãy kín đốt sống cổ II do tai nạn giao thông.
Tại bản Kết luận giám định số 47/KLGĐ-KTHS(DVCH), xác định: Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33, xe ô tô biển kiểm soát 37B-021.15 và xe đạp di chuyển cùng chiều trên phần đường phía Tây đường Quốc lộ 1A theo hướng Hà Nội - Vinh. Xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33 có va chạm với xe ô tô kiểm soát 37B-021.15.
Vị trí va chạm đầu tiên: Trên phương tiện: Trên xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33: Ở phía trước bên trái xe. Trên xe ô tô biển kiểm soát 37B-021.15: Ở phía sau bên phải xe. Trên hiện trường: Ở phần đường phía Tây đường Quốc lộ 1A.
Xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33 có va chạm với xe đạp. Vị trí va chạm đầu tiên: Trên phương tiện: Trên xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33: Ở phía trước bên phải xe. Trên xe đạp: Ở phía sau bên trái xe. Trên hiện trường: Ở phần đường phía Tây đường Quốc lộ 1A. Xe ô tô biển kiểm soát 37B-021.15 không va chạm với xe đạp. Không đủ cơ sở xác định góc độ va chạm giữa các phương tiện. Không xác định được vận tốc của xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33, xe ô tô biển kiểm soát 37B-021.15 và xe đạp.
Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là đường rải nhựa tương đối bằng phẳng, đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường rộng 9,0m gồm hai làn dành cho xe cơ giới, mỗi làn đường rộng 3m50, được chia bằng vạch sơn trắng đứt quãng; làn đường phương tiện thô sơ rộng 2m bên phải, chia đường bằng vạch sơn trắng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trương Văn L khai không thống nhất, cụ thể: Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, L và người ngồi sau là ông Trịnh Văn S khai nhận “khi đến đoạn đường xảy ra vụ tai nạn thì thấy có một người đàn ông đi xe đạp đi sát mép đường bên phải hướng Hà Nội – Vinh và ô tô khách màu vàng đi phía trước cùng chiều, sau đó L tăng ga để vượt xe ô tô nhưng do xe ô tô đi sát với phần đường dành cho xe thô sơ nên khoảng hở để L vượt lên hẹp nên đã va chạm với xe đạp, sau khi va chạm với xe đạp thì xe của L loạng choạng và đã va chạm với xe ô tô đi phía trước cùng chiều”. Tuy nhiên, Sau khi điều trị vết thương về thì L thay đổi lời khai theo hướng “ngay trước khi xảy ra tai nạn, L điều khiển xe mô tô 37F1-613.33 đi ở làn đường dành cho xe thô sơ nhưng không phát hiện thấy xe đạp hay phương tiện nào đi phía trước mà chỉ nghe 01 tiếng còi vang lên rồi thấy va chạm mạnh vào xe mô tô của ông L, dẫn đến mất lái, lảo đảo ngã ra đường choáng ngất, không rõ cụ thể”, đồng thời L cho rằng xe ô tô BKS 37B-021.15 do Nguyễn Quốc C điều khiển đã va chạm vào xe mô tô của mình trước, làm cho xe mô tô của L va chạm vào xe đạp gây tai nạn giao thông.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, dữ liệu điện tử được trích xuất từ Camera giám sát hành trình trên xe ô tô BKS 37B-021.15, Camera được trích xuất từ cửa hàng xăng dầu Quỳnh Giang và các tài liệu chứng cứ khác thì đều phù hợp với lời khai ban đầu của L và ông Trịnh Văn S. Qua đó, xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông làm cho ông Đinh Thế B chết là do lỗi L đi sai làn đường, không chú ý quan sát phương tiện phía trước để giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe đạp do ông B điều khiển; không có giấy phép lái xe theo quy định và sử dụng rượu bia có nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông.
Bản cáo tr¹ng sè 110/CT -VKS -QL, ngµy 05 th¸ng 7 n¨m 2022 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Quỳnh Lưu ®· truy tố bÞ c¸o Trương Văn L vÒ téi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b kho¶n 2 ®iÒu 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị: ¸p dông điểm a, b kho¶n 2 §iÒu 260, ®iÓm b, s, x kho¶n 1, khoản 2 ĐiÒu 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xö ph¹t: Trương Văn L 36 tháng tï nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Buộc bị cáo Lưu tiếp tục bồi thường cho đại diện theo uỷ quyền cho bị hại Đinh Thế B là anh Đinh Thế T 70.000.000đ.
Ông Phạm Văn Hà – Luật sư, bào chữa cho bị cáo Lưu; đề nghị xử phạt bị cáo L mức hình phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] §èi chiÕu lêi khai cña bÞ c¸o, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xe mô tô, xe đạp và xe ô tô; biên bản khám nghiệm tử thi, sơ đồ bản ảnh hiện trường, kết luận pháp y và kết luận luận giám định hiện trường tai nạn; Cã đủ cơ sở kÕt luËn ngày 29/01/2022, Trương Văn L trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33, phía sau xe chở ông Trịnh Văn S đã đi sai làn đường quy định, không chú ý quan sát phương tiện phía trước để giữ khoảng cách an toàn nên đã va chạm với xe đạp do ông Đinh Thế B điều khiển và va chạm tiếp với xe ô tô khách BKS 37B-021.15 do anh Nguyễn Quốc C điều khiển đang đi phía trước cùng chiều dẫn đến vụ tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông Đinh Thế B chết, ông Trịnh Văn S bị thương, các phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông đều bị hư hỏng nhẹ
Bị cáo tham gia giao thông gây tai nạn khi không có giấy phép lái xe và có sử dụng nồng độ cồn 1.027 mml/l khí thở nên cấu cấu thành tội phạm theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đối với anh Nguyễn Quốc C – là người lái xe ô tô khách BKS 37B-021.15, quá trình điều tra xác định anh C không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên nên không phải chịu trách nhiệm hình sự và dân sự.
Đối với anh Trương Tuấn A - là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33 do bị cáo L điều khiển gây ra tai nạn. Quá trình điều tra xác định, do làm ăn xa nhà nên anh Tuấn A để chiếc xe trên tại nhà của bị cáo, việc L sử dụng xe mô tô của anh Tuấn A để đi và gây tai nạn thì anh Tuấn A không được biết và không được trao đổi trước, đồng thời anh Tuấn A cho rằng trước đây bố anh có đi thi giấy phép lái xe nên anh nghĩ bị cáo L có giấy phép lái xe theo quy định. Do đó, anh Tuấn A không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Hµnh vi cña bÞ c¸o thùc hiÖn nªu trªn cã ®ñ c¨n cø kÕt luËn Trương Văn L ph¹m téi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và khung hình phạt được quy ®Þnh t¹i điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự nh c¸o tr¹ng của ViÖn kiÓm s¸t ®· truy tè vµ lêi luËn téi cña KiÓm s¸t viªn t¹i phiªn toµ là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Qu¸ tr×nh ph¹m téi, bÞ c¸o cã ®Çy ®ñ n¨ng lùc trách nhiệm hình sự, nhËn thøc vµ ®iÒu khiÓn hµnh vi cña m×nh lµ tr¸i ph¸p luËt, nh ng do không chấp hành pháp luật nªn ®· gây ra hậu quả chết người.
[3] Vô ¸n thuéc tr êng hîp rất nghiªm träng, hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, xâm phạm đến quy định về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và gây ra tổn thất tinh thần cho người thân bị hại. Tai nạn giao thông hiện nay là mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội. Bởi vậy, c¨n cø vµo tÝnh chÊt, møc ®é ph¹m téi, thiệt hại về người và tài sản nên cÇn thiÕt ph¶i xử phạt nghiªm, t ¬ng xøng víi hµnh vi ph¹m téi mµ bÞ c¸o thùc hiện.
[4] Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng.
Tuy nhiªn, xÐt thÊy t¹i phiªn tßa h«m nay, bÞ c¸o khai b¸o thµnh khÈn và ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại; bị cáo tham gia kháng chiến được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và Bằng khen; bị cáo là thương binh hạng 4/4 và là người trực tiếp thờ cúng liệt sỹ; vợ bị cáo bị bệnh tâm thần, các con đã có gia đình riêng và ở xa, bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo là người cao tuổi. Bị c¸o nhÊt thêi ph¹m téi, cã ®Þa chØ vµ n¬i c tró râ rµng; việc cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến công tác phòng chống tội phạm nói chung nªn kh«ng cÇn thiÕt ph¶i c¸ch ly khái x· héi mµ cho bÞ c¸o ® îc hưởng án treo như Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có điều kiện chăm sóc vợ bị bệnh và bồi thường cho đại diện bị hại.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An huyện Quỳnh Lưu đã trao trả xe mô tô biển kiểm soát 37F1-613.33; ô tô biển kiểm soát 37B-021.15; xe đạp cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật.
01 bản sao giấy chứng nhận thế chấp Giấy đăng ký xe ô tô biển số 37B1-021.15; 01 chiếc USB mã số NS4 2106819 và 01 USB mã số NS4 2106892 là tài liệu liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã đưa vào làm tài liệu hồ sơ vụ án nên tiếp tục giữ nguyên tại hồ sơ.
[7] VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Bị cáo và đại diện theo uỷ quyền cho bị hại Đinh Thế B là anh Đinh Thế T thoả thuận mức bồi thường là 120.000.000đ. Bị cáo L đã bồi thường 50.000.000đ; số tiền 70.000.000đ còn lại thì bị cáo L phải bồi thường tiếp.
Đối với phần hư hỏng xe, các chủ sở hữu không yêu cầu nên miễn xét.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Trịnh Văn S có bị thương tích và phải điều trị nhưng không yêu cầu bị cáo L bồi thường nên miễn xét.
[8] Về án phí: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt; bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự.
Bëi c¸c lÏ trªn,
QuyÕt ®Þnh:
1.Căn cứ vào điểm a, b kho¶n 2 §iÒu 260, Các điÓm b, s, x kho¶n 1, khoản 2 ĐiÒu 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
2.Xö ph¹t: BÞ c¸o Trương Văn L 03 (ba) năm tï nh ng cho h ëng ¸n treo, thêi gian thö th¸ch 05 (năm) năm kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thẩm (19/8/2022) về téi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bÞ c¸o Trương Văn L cho UBND xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An gi¸m s¸t, gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Trương Văn L bồi thường tiếp cho đại diện bị hại là anh Đinh Thế T 70.000.000đ.
4.VÒ ¸n phÝ: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; ĐiÒu 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bÞ c¸o Trương Văn L ph¶i chịu 200.000® án phí hình sự sơ thẩm.
5.Bị cáo; Người bào chữa; Đại diện bị hại được quyền kh¸ng c¸o lªn Toµ ¸n nh©n d©n tØnh NghÖ An trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kh¸ng c¸o lªn Toµ ¸n nh©n d©n tØnh NghÖ An trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, đương sự - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu; - Sở Tư pháp; - CA huyện Quỳnh Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND Tỉnh Nghệ An - UBND xã DT, huyện DC (để biết) - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Hà |