vanban.org

Bản án 113/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm i khoản 2 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2022/HS-ST.
Ngày: 27/10/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tuấn và Bà Vũ Thị Ngọc Phan

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:

Ông Trần Anh Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2022/TLST-HS, ngày 12 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116 ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức M, sinh năm 1993. Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Tổ 14, phường T, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12;

Con ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1964 và bà Trần Thị H, sinh năm 1969; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, có vợ là Lý Thị B, sinh năm 1991 và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình từ ngày 27/8/2022 đến nay

(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông: Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1964 (Có mặt) Nơi cư trú: Tổ 14, phường T, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến:

Ông: Hà Việt D, sinh năm 1962 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ 18, phường H, TP T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 26/8/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có 01 đối tượng nam giới điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda, màu trắng, biển kiểm soát 20A 442.14 dừng đỗ ở lề đường Quốc lộ 37 đoạn trước cửa nhà nghỉ Đầm Sen thuộc xóm Thuần Pháp, xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đang cất giấu ma túy. Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp cùng Công an xã Điềm Thụy đến địa điểm nêu trên để xác minh tin báo. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, tổ công tác đến nơi và yêu cầu kiểm tra đối với đối tượng trên. Đối tượng khai tên là Nguyễn Đức M, sinh năm 1993, trú tại; tổ 14, phường T, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. M khai nhận đang cất giấu ma túy trên người để đi bán cho khách kiểm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người quả tang đối với Nguyễn Đức M và thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 20 viên nén màu xanh (M khai là ma túy thuốc lắc của M ) phát hiện thu giữ tại túi quần bên trái Nguyễn Đức M đang mặc được niêm phong ký hiệu Q1; một điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEL: 353811083105901; 01 thẻ Căn cước công dân số 019093005589 mang tên Nguyễn Đức M; số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda, biền kiểm soát 20A 442.14, sơn màu trắng, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 073613 mang tên Nguyễn Ngọc K; 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức M; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 1384085 cấp ngày 28/5/2022 của xe BKS 20A442.14.

Hồi 23 giờ 30 phút ngày 26/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức M tại xóm tổ 14, phường T, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 07 giờ 00 phút ngày 27/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Nguyên, có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong vật chứng cân xác định: toàn bộ số viên nén màu xanh có khối lượng là 10,02 gam. Lấy 03 viên có khối lượng là 1,50 gam niêm phong vào bì thư ký hiệu G làm mẫu giám định.

Ngày 27/8/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên đã chuyển tin báo về tội phạm kèm theo đối tượng, tài liệu, vật chứng có liên quan nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình, tinh Thái Nguyên giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 1344/KL-KTHS ngày 04/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Đức M trong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 10,02 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức M khai nhận như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 26/8/2022, M đi taxi của một người lạ, M không nhớ biển kiểm soát và hãng của xe taxi đi từ nhà đến khu vực đầu cầu Treo thuộc xã Huống Thượng, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên mục đích để mua ma túy tổng hợp “Kẹo” về bán kiếm lời (do trước đó M có nhận được điện thoại của một người phụ nữ giới thiệu tên L bảo M lấy hộ 20 viên ma túy “kẹo”, M không biết L là ai, không biết ai giới thiệu). L bảo M mang ma túy xuống nhà nghỉ Đầm Sen thuộc xã Điềm Thụy huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên để giao cho L. Khi M đi xe taxi đến khu vực xã Huống Thượng, Thành phố T, M xuống xe và trả tiền taxi và đi bộ một mình. M gặp một người đàn ông tên là C, M hỏi mua của C 20 viên ma túy “kẹo” và nói với C lúc nào bán được ma túy tôi sẽ trả tiền sau, C đồng ý và bán cho M 20 viên ma túy “kẹo” được để trong một túi nilon với giá 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), M nhận ma túy và tiếp tục đi taxi người lạ về nhà. Khi về nhà, M mượn xe tô tô nhãn hiệu Mazda, màu trắng, biển kiểm soát 20A 442.14 của ông Nguyễn Ngọc K (là bố đẻ của M ) để mang 20 viên ma túy kẹo xuống khu vực xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên bán cho L (M không nói cho K biết việc đi bán ma túy). Đến khoảng 21 giờ 45 phút, cùng ngày, khi M đang dừng xe bên đường Quốc lộ 37 theo hướng Phú Bình – Thái Nguyên đoạn trước cửa nhà nghỉ Đầm Sen thuộc xóm Thuần Pháp, xã Điềm Thụy đợi L để bán ma túy cho L thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: Liên quan đến vụ án cơ quan công an thu giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda, biển kiểm soát 20A-442.14, sơn màu trắng, số máy PE20816085, số khung 47A6GC046783; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 073613 do Công an tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 04/12/2020 mang tên Nguyễn Ngọc K, biển số 20A-442.14; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 1384085 do Công ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 28/5/2022 của xe BKS 20A442.14. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc K.

Ngoài ra quan công an Còn thu giữ các vật chứng sau: 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, hoàn trả 1,350 gam mẫu G Còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu G vụ Nguyễn Đức M; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L bên trong có 17 (mười bẩy) viên nén màu xanh; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K bên trong có một điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEL 353811083105901; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Đức M; 01 thẻ Căn cước công dân số 019093005589 mang tên Nguyễn Đức M; Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ngân hàng NN Việt Nam đang lưu hành.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Phú Bình và lưu giữ tại Kho bạc Nhà nưóc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSPB ngày 12/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo Nguyễn Đức M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.

Ông Nguyễn Ngọc K khai: M là con trai ông, hàng ngày làm nghề chuyển hàng hóa thuê (sippo), từ trước đến nay ở địa phương không có vi phạm gì và gia đình chưa nghe thông tin gì về việc M có liên quan đến ma túy. Vợ chồng ông mua xe ô tô nhãn hiệu Mazda, biển kiểm soát 20A-442.14 để ông sử dụng đã vài năm, thỉnh thoảng M mượn xe ô tô đi chơi vợ chồng ông vẫn cho mượn. Ngày 26/8/2022 M mượn xe đi chơi ông K đồng ý và không biết M đi vận chuyển ma túy, khi cơ quan công an thông báo bắt M và giữ xe ông mới biết. Quá trình điều tra ông K đã nhận lại xe ô tô và giấy tờ, tại phiên tòa hôm nay không Còn yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về vật chứng căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 1,350 gam ma túy được hoàn trả sau giám định và vỏ bao mẫu; 17 viên nén màu xanh là ma túy thuốc lắc của Nguyễn Đức M.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen, cũ, đã qua sử dụng, số IMEL 353811083105901 của Nguyễn Đức M.

+ Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2; 01 thẻ Căn cước công dân số 019093005589 mang tên Nguyễn Đức M.

+ Tạm giữ đảm bảo thi hành án: số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Đức M.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ nộp ngân sách nhà nước.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa Nguyễn Đức M khai: Hồi 21 giờ 45 phút ngày 26/8/2022, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Đầm Sen thuộc xóm Thuần Pháp, xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đức M đang có hành vi tàng trữ 20 viên ma túy dạng viên nén có khối lượng 10,02 gam, loại Methamphetamine nhằm bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Công an xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan, thống nhất với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người chứng kiến và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Như vậy ý thức, hành vi của bị cáo thực hiện như trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

i) ..., Methamphetamine…có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam …

5. Người phạm tội Còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Xét về tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất an ninh, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng. Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng nó làm cho con người lệ thuộc vào ma túy mất đi nhân cách, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Trong vụ án này bị cáo là kẻ chủ mưu và trực tiếp thực hiện tội phạm, mục đích mang số ma túy đó theo người để bán cho người đã đặt mua nên bị phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xét cần có mức án và buộc bị cáo cách ly xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ gia đình lương thiện do hám lợi không làm chủ được bản thân nên đi vào con đường phạm tội cũng là lần đầu vi phạm pháp luật; bị cáo Nguyễn Đức M không phải chịu tình tiết tăng nặng nào và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét có căn cứ chấp nhận mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa công khai. Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

. Về vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ số ma túy của bị cáo Nguyễn Đức M được niêm phong vào các bì như sau: 01 bì thư niêm phong ký hiệu G ngoài bì thư có ghi hoàn trả 1,350 gam mẫu G Còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu; 01 bì thư niêm phong Còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu L, bên trong có 17 viên nén màu xanh; Xét đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại Iphone vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei 353811083105901, lắp sim số thuê bao 0976800245 của Nguyễn Đức M sử dụng vào việc liên hệ mua bán ma túy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đức M, xét số tiền này không liên quan đến vụ án cần tạm giữ để để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

. Về nguồn gốc số ma túy (Methamphetamine), Nguyễn Đức M khai mua được của một người đàn ông tên C tại khu vực xã Huống Thượng, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, M không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Theo Nguyễn Đức M khai có người phụ nữ tên L đã gọi điện cho M để đặt mua 20 viên ma túy của M nhưng M đã xóa số điện thoại của người này và không thể nhớ được số điện thoại của người này là số nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với ông Nguyễn Ngọc K là người đã cho Nguyễn Đức M mượn chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, biển kiểm soát 20A 442.14, M đã sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma túy nhưng ông K không biết việc M bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý đối với ông K .

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm i khoản 2 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức M 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2022. Căn cứ Điều 329 BLTTH, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Phạt M 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong Còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu G ngoài bì thư có ghi hoàn trả 1,350 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu G Còn lại sau giám định; 01 bì thư niêm phong Còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu L ngoài bì thư có ghi 8,52 gam (17 viên) ghi là ma túy thuốc lắc phát hiện thu giữ trong túi quần trái của Nguyễn Đức M sinh năm 1993 ngày 26/8/2022 tại xóm Thuần Pháp, xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì thư niêm phong Còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu K, ngoài bì thư có ghi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei 353811083105901, lắp sim số thuê bao 0976800245 thu giữ của Nguyễn Đức M sinh năm 1993 ngày 26/8/2022.

+ Trả lại cho bị cáo M 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Đức M; 01 căn cước công dân số 019093005589 mang tên Nguyễn Đức M.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2022 và giấy ủy nhiệm chi số 230 ngày 18/10/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình và chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ