- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc T cùng đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc T (N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 113/2021/HSST; Ngày 12/7/2021; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Huỳnh Sinh.
2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2021/HSST, ngày 01 tháng 6 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2021/QĐXXST-HS, ngày 29/6/2021 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN ĐẮC T (N), sinh năm 1995, tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố 4, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nguyễn Đắc L (Chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1950; Anh chị em ruột có 10 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1995; Bị cáo là con út trong gia đình; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2015.
Tiền án: Tại bản án số 63/2017/HSST, ngày 31/7/2017 Tòa án nhân dân TP.Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc T 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2019.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 19/7/2011, bị Công an phường Đô Vinh xử phạt 75.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư”;
- Ngày 20/10/2014, bị Công an phường Đô Vinh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”;
- Ngày 22/01/2015, bị Công an TP.Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Ngày 05/02/2015, bị Công an phường Đô Vinh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Tp.Phan Rang – Tháp Chàm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. VÕ MINH T1 (Ty), Sinh năm 1993; tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Võ Kim H (Chết) và bà Võ Thị Q (Chết); Anh chị em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1999; Bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; vợ Huỳnh Thị Xuân V, sinh năm 1995; có 01 người con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự : không;
Nhân thân:
Bản án số 78/2014/HSST, ngày 28/7/2014 Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt bị cáo Võ Minh T1 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; Bản án số 04/2015/HS-ST, ngày 27/03/2015, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải xử phạt bị cáo Võ Minh T1 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp với phần hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 78/2014/HS-ST của Tòa án nhân dân TP.Phan Rang – Tháp Chàm. Buộc bị cáo Võ Minh T1 phải chấp hành hình phạt chung là 26 (Hai mươi sáu) tháng 26 (Hai mươi sáu) ngày. Ngày 21/01/2017 Võ Minh T1 chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án. Tháng 06/2019, Võ Minh T1 chấp hành xong toàn bộ nghĩa vụ bồi thường dân sự và án phí của hai bản án.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/02/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Điền Hòa T2, sinh năm 1999.
2. Ông Sử Lê Chi V, sinh năm 1999.
Cùng địa chỉ: Khu phố 6, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
3. Ông Nguyễn Tuấn V1, sinh năm 1995.
4. Ông Lê Thanh T3, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
5. Ông Trần Quang V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu phố 7, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 19/02/2021, Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm phối hợp với Công an phường Đô Vinh tiến hành kiểm tra căn nhà của bà Trương Thị H (sinh năm 1975, trú tại khu phố 7, phường Đ, thành phố P) cho Trần Nguyễn Hoài Th (sinh năm 2002, trú tại khu phố 3, phường V, thành phố P) thuê, phát hiện Nguyễn Đắc T, Võ Minh T1 cùng các đối tượng Điền Hòa T2, Sử Lê Chi V, Hồ Quốc D, Lê Thanh T3, Nguyễn Tuấn V1, Trần Quang V2 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phòng phía trên nhà, phát hiện dưới đống quần áo có 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín các đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (ký hiệu giám định M2). Tiến hành kiểm tra xe mô tô loại Sirius biển số 85D1 – 276.58 của Nguyễn Đắc T phát hiện trong cốp xe có cất giấu 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín các đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (ký hiệu giám định M1). Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật và mời các đối tượng về làm việc. Tiến hành test nhanh ma túy đối với Nguyễn Đắc T, Võ Minh T1, Điền Hòa T2, Sử Lê Chi V, Hồ Quốc D, Lê Thanh T3 và Nguyễn Tuấn V1 cho kết quả dương tính với ma túy đá.
Tại Kết luận giám định chất ma túy số 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là 0,0445g (Không phẩy không bốn bốn năm gam).
- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M2 là 3,9166g (Ba phẩy chín một sáu sáu gam);
Hoàn lại đối tượng giám định:
- Khối lượng mẫu vật ký hiệu M1 gửi đến giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Khối lượng mẫu vật ký hiệu M2 còn lại sau giám định là M2: 3,6658g (Ba phẩy sáu sáu năm tám gam), cùng với các bao gói gửi đến giám định.
Quá trình điều tra, có căn cứ xác định: Số ma túy đá trên là của Nguyễn Đắc T mua từ một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực bến xe miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 18/02/2021 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua ma túy, Nguyễn Đắc T đem về cất giữ để sử dụng dần. Đến khoảng 14 giờ ngày 19/02/2021, Nguyễn Đắc T mang theo bịch ma túy đá cất vào túi quần bên phải và chở Võ Minh T1 đến nhà trọ của Trần Nguyễn Hoài Th để chơi. Tại đây, do thấy có sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong nhà nên Nguyễn Đắc T nảy sinh ý định lấy ma túy mang theo đổ vào bình để sử dụng một mình. Khi lấy bịch ma túy ra, thấy ma túy bị đổ một ít ra ngoài túi quần nên Nguyễn Đắc T đã hốt phần ma túy bị đổ bỏ vào bịch nylon nhỏ hơn, hàn kín lại và cất vào cốp xe mô tô biển số 85D1 – 276.58. Sau khi cất bịch ma túy nhỏ, Nguyễn Đắc T tiếp tục đổ một ít ma túy trong bịch lớn vào bộ dụng cụ và sử dụng một mình, phần ma túy còn lại, T cất vào trong túi quần rồi đi ra ngoài nói chuyện với Nguyễn Tuấn V1. Lúc này, do thấy trong bộ dụng cụ còn một ít ma túy sót lại, Võ Minh T1, Sử Lê Chi V, Hồ Quốc D, Lê Thanh T3 lần lượt sử dụng hết phần ma túy còn lại trong bình. Sau khi nói chuyện với Nguyễn Đắc T, Nguyễn Tuấn V1 cũng vào sử dụng ma túy. Do Nguyễn Đắc T đã đi ra ngoài nên không biết các đối tượng này sử dụng số ma túy còn lại trong bộ dụng cụ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, lực lượng Công an vào kiểm tra, do sợ bị phát hiện, Nguyễn Đắc T lấy bịch ma túy trong túi quần đưa cho Võ Minh T1 và nói: “Vứt đi!”. Lúc này, Võ Minh T1 ném bịch ma túy lên bàn thờ trong nhà. Thấy vậy, Nguyễn Đắc T tiếp tục hỏi: “Vứt đi chưa?”, Võ Minh T1 nghe vậy liền lấy bịch ma túy trên bàn thờ xuống rồi đem giấu dưới đống quần áo trong phòng phía trên thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bản Cáo trạng số 92/CT-VKS-PRTC ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề cụ thể sau:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc T từ 30 đến 36 tháng tù.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Minh T1 từ 18 đến 24 tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đắc T không tranh luận.
Bị cáo Võ Minh T1 không tranh luận.
Bị cáo Nguyễn Đắc T nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Võ Minh T1 nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về việc làm sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định số 46/KLGĐ-PC09 ngày 23/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau:
Đối với Nguyễn Đắc T: Bị cáo là người giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo đã trực tiếp mua ma túy từ một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực bến xe miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 18/02/2021 với giá tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Đắc T đem về cất giữ để sử dụng dần. Tổng khối lượng ma túy mà lực lượng Công an đã bắt quả tang Nguyễn Đắc T có hành vi tàng trữ trái phép là 3,9611 g (ba phẩy chín sáu một một gam) chất ma túy loại Methamphetamine.
Đối với Võ Minh T1: Bị cáo đã giúp sức cho Nguyễn Đắc T cất giấu 3,9166g (Ba phẩy chín một sáu sáu gam) chất ma túy loại Methamphetamine khi bị lực lượng Công an vào kiểm tra nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm truy tố các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” do hai bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 cùng thực hiện. Methamphetamine là chất được liệt kê tại bảng danh mục các chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ, bị cấm sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển dưới mọi hình thức. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
- Về tình tiết giảm nhẹ : Các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Minh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Đắc T có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (tái phạm) được quy định tại điểm h, khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 đều là người có nhân thân xấu. Đã từng bị Tòa án xét xử hình phạt tù có thời hạn. Lẽ ra khi mãn hạn tù các bị cáo phải tự tìm cho mình một công việc làm lương thiện để nuôi sống bản thân và sửa chữa những lỗi lầm mà mình đã gây ra nhưng ngược lại các bị cáo lại tiếp thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điều đó thể hiện các bị cáo không ăn năn hối cải về những việc làm sai trái trước đây của mình.Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với Sử Lê Chi V, Hồ Quốc D, Lê Thanh T3, Nguyễn Tuấn V1, Điền Hòa T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 19/02/2021 là phạm vào Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an TP.Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt vi phạm hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người người đàn ông ở khu vực bến xe miền Đông thuộc thành phố Hồ Chí Minh đã bán ma túy cho Nguyễn Đắc T, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được tên tuổi và địa chỉ cụ thể, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và đề nghị xử lý sau là phù hợp.
Đối với bà Trương Thị H là chủ nhà và bà Trần Nguyễn Hoài Th là người thuê nhà do không biết Nguyễn Đắc T, Võ Minh T1, Sử Lê Chi V, Hồ Quốc D, Lê Thanh T3, Nguyễn Tuấn V1 vào nhà để sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án cụ thể như sau:
- 01 (một) túi niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 3,6658gam ma túy loại Methamphetamine cùng với các bao gói gửi đến giám định. Bên ngoài có dấu tròn màu đỏ của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận và chữ kí xác nhận của các bên liên quan Lê Ngọc Thư, Trịnh Đình Quân, Lê Viết Công, Nguyễn Nghi Anh;
- 01 (một) chai nhựa hình trụ màu trắng, nắp màu vàng đục hai lỗ gắn ống thủy tinh hình phểu (nỏ) và một ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) đầu khò làm bằng kim loại, trên có nhựa màu xanh – đỏ - đen; 01 (một) hộp quẹt ga làm bằng nhựa màu đỏ là dụng cụ để sử dụng ma túy.
* Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu đối với những tài sản sau đây bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ và đúng quy định pháp luật gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu trắng - xám đã qua sử dụng của Võ Minh T1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh - trắng đã qua sử dụng của Nguyễn Đắc T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đồng đã qua sử dụng của Điền Hòa T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đồng đã qua sử dụng của Nguyễn Tuấn V1; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu xanh – trắng, biển số 85D1 – 404.41 của Lê Thanh T3; 01 (một) xe mô tô loại Sirius, màu xanh – bạc, biển số 85D1 – 276.58 đã qua sử dụng của anh Nguyễn Quốc H (sinh năm 1997, trú tại Thôn H, xã P, huyện N).
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo và đề xuất mức án đối với bị cáo Võ Minh T1 là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, đối với bị cáo Nguyễn Đắc T là người giữ vai trò chính trong vụ án và có một tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng khối lượng ma túy mà bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép là tương đối lớn (3,9611g), đối chiếu với mức án mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố phan Rang – Tháp Chàm đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Đắc T là có phần nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng mức án nghiêm khắc hơn đối với bị cáo để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong lúc tình hình tội phạm về ma túy đang ngày càng tăng cao.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc T (N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 02 năm 2021.
- Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T1 (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Võ Minh T1 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 02 năm 2021.
* Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng: Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) túi niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 3,6658gam ma túy loại Methamphetamine cùng với các bao gói gửi đến giám định. Bên ngoài có dấu tròn màu đỏ của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận và chữ kí xác nhận của các bên liên quan Lê Ngọc Thư, Trịnh Đình Quân, Lê Viết Công, Nguyễn Nghi Anh;
- 01 (một) chai nhựa hình trụ màu trắng, nắp màu vàng đục hai lỗ gắn ống thủy tinh hình phểu (nỏ) và một ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) đầu khò làm bằng kim loại, trên có nhựa màu xanh - đỏ - đen; 01 (một) hộp quẹt ga làm bằng nhựa màu đỏ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/06/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm).
* Về án phí:
Áp dụng : Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo Nguyễn Đắc T và Võ Minh T1. Quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 12/7/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Thi hành án phạt tù; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Hồng |