vanban.org

Bản án 113/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hồng P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao

thông đường bộ” . 65 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Hồng P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hồng P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2021/HSST
Ngày: 29-12-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Xoa

2. Ông Nguyễn Xuân Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Là Thư ký Tòa án nhân dân

Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu TP Đà Nẵng tham gia

phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP

Đà Nẵng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 106/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2021/HSST-QĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Hồ Hồng P; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 14/2/1981 tại tỉnh Thừa

Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: K 54/5 thuộc tổ 26 phường H, quận H, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hồ D (SN: 1954) và bà Trần Thị T (SN: 1957); Gia đình bị cáo có 3 chị em. Bị cáo là con thứ 2. Có vợ Nguyễn Thị H N(SN: 1988) và 01 con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân

quận Hải Châu, có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: ông Phan Công T(chết). Người đại diện hợp pháp của ông T: ông

Phan Công T1. Sinh năm: 1945, bà Nguyễn Thị H. Sinh năm: 1947, bà Nguyễn Thị D. Sinh năm: 1976, bà Phan Thị Công T, sinh năm: 1999, bà Phan Thị L. Sinh năm: 2000. Cùng địa chỉ: tổ 43 phường T, quận H, TP Đà Nẵng, ông T1, bà H vắng mặt; bà D, bà T, bà L có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị H – Sinh năm: 1974. Địa chỉ: Số 185 Nguyễn C, thành phố Đà

Nẵng, vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Hằng N – Sinh năm: 1988. Địa chỉ: K54/5 H, tổ 26 phường

H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h15’ ngày 20/4/2021, Hồ Hồng P sau khi đã uống rượu bia, điều

khiển xe mô tô biển số 43C1-860.55 chạy ngược chiều trên làn đường dành riêng cho xe ô tô (là làn thứ nhất, sát dải phân cách) của đường Nguyễn Tất Thành theo hướng từ đường 3/2 đến đường Ông Ích Khiêm, khi đến trước nhà số 173 Nguyễn Tất Thành thuộc phường Thanh Bình, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng thì tông vào xe mô tô biển số 43S2-3227 do ông Phan Công T điều khiển thuận chiều (theo chiều đi của ông T) theo hướng ngược lại. Hậu quả: Làm cả 02 xe và người đều ngã xuống đường, P bị xây xát nhẹ, ông T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng, đến ngày 27/4/2021 thì tử vong.

Kết quả kiểm tra của Đội Cảnh sát giao thông Công an quận Hải Châu vào lúc

22h28’ngày 20/4/2021: Hồ Hồng P có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,419 mg/L.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 43C1-860.55; 01 Giấy phép lái xe

mang tên Hồ Hồng P; 01 xe mô tô biển số 43S2-3227 (của ông T điều khiển). Kết quả khám nghiệm hiện trường dựng lại lúc 08h30’ ngày 21/7/2021, thể hiện: Đường Nguyễn Tất Thành đoạn qua trước số nhà 173 Nguyễn Tất Thành, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Phần đường Nguyễn Tất Thành (theo hướng từ đường Ông Ích Khiêm đến đường 3/2) rộng 10,7 mét được chia thành 03 làn đường rộng lần lượt là 4,1 mét, 3,9 mét và 2,7 mét (tính từ làn sát mép dải phân cách cứng). Lấy trụ đèn CS41T3NTT làm điểm mốc và mép trái đường Nguyễn Tất Thành làm chuẩn.

Xe mô tô biển số 43C1-860.55 ngã về phía bên phải, trục trước xe cách mép

trái đường Nguyễn Tất Thành là 1,9 mét, trục sau cách trụ đèn CS41T3NTT là 4,9 mét và cách mép trái đường Nguyễn Tất Thành là 4,1 mét. Xe mô tô biển số 43S2-3227 ngã về phía bên phải, trục trước xe cách mép trái đường Nguyễn Tất Thành là 4,4 mét, trục sau cách trụ đèn CS41T3NTT là 7,8 mét và cách mép trái đường Nguyễn Tất Thành là 3,9 mét. Vết cày không liên tục dài 01 mét, điểm bắt đầu cách trụ đèn CS41T3NTT là 04 mét và cách mép trái đường Nguyễn Tất Thành là 2,5 mét, điểm kết thúc cách mép trái đường Nguyễn Tất Thành là 2,3 mét.

Khám xe mô tô 43C1-860.55: Nơi để chân phía trước bên trái xe bị vỡ, kích

thước (20x10)cm và cách mặt đất là 20 cm; Manh chắn gió phía trước bên trái của xe bị rơi ra, kích thước 5 cm; Ốp máy phía sau bên trái của xe bị trầy xước, kích thước (10x5)cm, cách mặt đất 20cm; Khám xe mô tô 43S2-3227: Manh chắn bùn phía trước của xe bị trầy xước, kích thước 20cm, cách mặt đất 60cm; Đèn chiếu sáng phía trước của xe bị rơi vỡ, kích thước 10cm; Phần đầu xe bị vỡ, kích thước (20x5)cm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 48/TgT ngày 03/6/2021, của

Trung tâm pháp ý thuộc Sở Y tế TP Đà Nẵng, kết luận: Xét nghiệm sinh hóa máu Ethanol ngày 20/4/2021: 51.7mmol/L; Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương đầu mặt: Nứt xương chẩm phải, phù não hai bán cầu, nứt cánh nhỏ xương bướm phải, gãy cung tiếp gò má phải, vỡ xoang hàm phải, gãy bờ ngoài ổ mắt phải, tụ dịch xoang hàm và xoang sàng hai bên; Chấn thương ngực đụng dập phổi hai bên (tổn thương phế bào – kẽ lan tỏa hai phổi); Chấn thương gãy phần dưới hố dưới vai xương vai phải; Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương; Hôn mê sâu, suy hô hấp, trụy tim mạch, ngừng thở, ngừng tim, tử vong.

Tại Kết luận giám định số 627/C09C-Đ1 ngày 05/7/2021, của Phân Viện khoa

học hình sự tại TP Đà Nẵng, kết luận: Dấu vết nứt, vỡ, cong gập, trượt, mất chất màu đen tại yếm và sàn để chân bên trái của xe mô tô biển số 43C1-860.55 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải phù hợp với dấu vết cong gập, trượt, xước, bám dính chất màu đen tại các bộ phận bên trái xe gồm: mặt ngoài ốp lốc máy, phía trước cần sang số và gác chân trước của xe mô tô biển số 43S2-3227 cùng có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải; Dấu vết hằn, cong, trượt, mất chất màu nâu, đen, bám dính chất màu xám tại mặt trước và ngoài bách trợ lực chân chống nghiêng (khi chân chống ở trạng thái nghỉ gấp vào thân xe) của xe mô tô biển số 43C1-860.55 có chiều hướng từ trước ra sau, phù hợp với dấu vết hằn, trượt, bám dính chất màu nâu, đen, mất chất màu xám tại cạnh phía ngoài các bộ phận bên trái xe gồm: đầu đũa dây phanh, cần phanh trước và đầu dưới giảm xóc trước của xe mô tô biển số 43S2-3227 cùng có chiều hướng từ trước ra sau; Dấu vết trượt, xước kim loại tại mặt ngoài ốp bên trái lốc máy của xe mô tô biển số 43C1-860.55 có chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với dấu vết trượt tại cạnh ngoài đầu đũa dây phanh trước của xe mô tô biển số 43S2-3227 có chiều hướng từ trước ra sau; Dấu vết trượt, bám dính chất màu đen tại mặt ngoài ốp bên trái lốc máy của xe mô tô biển số 43C1-860.55 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết trượt, mất chất màu đen tại má bên trái lốp bánh xe trước (vị trí dấu vết cách chân van 32cm theo chiều quay tiến của bánh xe) của xe mô tô biển số 43S2-3227 có chiều hướng từ mặt lăn vào tâm bánh xe và chiều quay tiến của bánh xe; Xe mô tô 43C1-860.55 có số khung đóng tại mặt trên khung xe (phía dưới yên xe) là RLHJF5161KZ104143, số máy đóng tại mặt ngoài ốp bên trái lốc máy là JF87E-5015036. Xe mô tô biển số 43S2-3227 có số khung đóng tại mặt ngoài ốp bên trái lốc máy là VLF1P52FMH-3#400270079#. Không phát hiện thấy dấu vết đục phá, sữa chữa số khung, số máy của 02 xe mô tô nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt đề nghị

HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H, bà Nguyễn Thị Hằng N vắng mặt, HĐXX đã công bố lời khai của bà H, bà N theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 102/CT- VKS ngày 29-11-2021 của Viện Kiểm sát nhân

dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Hồ Hồng P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Hành vi của bị cáo Hồ Hồng P có đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy

định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Hồng P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản1, 2 điều 51, điều 54, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Hồng P mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo P 01 Giấy

phép lái xe hạng A1 đứng tên Hồ Hồng P.

*Về dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Hồ Hồng P đã tự nguyện bồi thường

cho gia đình bị hại 150.000.000 đồng chi phí mai táng và cấp dưỡng, đại diện gia đình bị hại bà Phan Thị Công T đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo Hồ Hồng P không có ý kiến bổ sung bào chữa và không có ý kiến

tranh luận gì.

Về trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Hồ Hồng P đã thừa nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chữa bệnh, chăm sóc gia đình và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hồ

Hồng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo Phúc phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên cùng các tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h15’ ngày 20/4/2021, tại trước nhà số 173 Nguyễn Tất Thành thuộc phường Thanh Bình, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Hồ Hồng P trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,419 mg/L điều khiển xe mô tô biển số 43C1-860.55 chạy ngược chiều trên làn đường dành riêng cho xe ô tô (là làn thứ nhất, sát dải phân cách) của đường Nguyễn Tất Thành theo hướng từ đường 3/2 đến đường Ông Ích Khiêm, vì thiếu quan sát nên tông vào xe mô biển số 43S2-3227 do ông Phan Công T(trong máu có nồng độ cồn 51.7mmol/L) điều khiển theo hướng thuận chiều theo chiều đi của ông T. Hậu quả: ông Thương bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng, đến ngày 27/4/2021 thì tử vong.

Hành vi trên của bị cáo Hồ Hồng P đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về

tham gia giao thông đường bộ” như bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét nội dung, tính chất vụ án và nhân thân bị cáo thì thấy: Hồ Hồng P là

người thành niên, có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật nhưng không tuân thủ các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn làm ông Phan Công T bị thương nặng và sau một thời gian điều trị đã bị tử vong. Bị cáo đã sử dụng bia rượu khi tham gia giao thông, điều khiển xe đi vào đường ngược chiều là vi phạm quy định tại khoản 23 điều 8, khoản 1 Điều 9 và khoản 1 điều 11 Luật giao thông đường bộ, vi phạm khoản 1 điều 35 của Luật phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo

khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền là 150.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của người bị hại cũng đã có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo, người bị hại ông Phan Công T cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô khi trong máu có nồng độ cồn 51.7mmol/L, chạy không đúng làn đường quy định là vi phạm vào khoản 23 điều 8, khoản 1 điều 9, khoản 2,3 điều 13 Luật giao thông đường bộ, khoản 1 điều 35 của Luật phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019 nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS nên cần áp dụng điều 54 BLHS để áp dụng mức hình phạt dưới khung hình phạt quy định đối với bị cáo. Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy, nhân thân bị cáo tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án tiền sự gì nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà vận dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Giao bị cáo về địa phương, nơi bị cáo thường trú để tiếp tục giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về dân sự : Tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại

bà Phan Thị Công T không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng : Đối với xe mô tô biển số 43S2-3227, số máy 270079,

số khung 427079 đứng tên đăng ký xe là bà Phan Thị H, xe này bà H đã bán cho ông Phan Công T nhưng chưa làm thủ tục sang tên, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phan Thị Công T là phù hợp.

- Đối với xe mô tô biển số 43C1-860.55, số máy 5015036, số khung 104143

của bà Nguyễn Thị Hằng N, bà N cho P mượn để làm phương tiện đi lại, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu trả lại cho bà N là phù hợp.

Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số K238710 đứng tên Hồ Hồng P không

liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo P.

Các nhận định, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay

về điểm, khoản, điều luật áp dụng và mức hình phạt phù hợp với ý kiến của HĐXX nên cần chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm : 200.000đ bị cáo P phải chịu,

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hồng P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao

thông đường bộ” .

Căn cứ điểm b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 54, điều

65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hồ Hồng P 02(Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử

thách là 04(Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/12/2021.

Giao bị cáo Hồ Hồng P cho Ủy ban nhân dân phường Hải Châu 1, quận Hải

Châu, TP. Đà Nẵng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện

theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự.

Tuyên trả cho Hồ Hồng P 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số K238710 ngày

01/3/2003 do Sở giao thông công chính thành phố Đà Nẵng cấp đứng tên Hồ Hồng P.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu đang

tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2021.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Hồng P phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29-12-2021. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế độ án treo cho bị cáo)

*Nơi nhận :

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo

Cỡ chữ