vanban.org

Bản án 113/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 25/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Phùng Minh Đ 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Minh Đ - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2021/HSST
Ngày 25/05/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bạch Ngọc Khanh.

2. Ông Phùng Văn Tầu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân

quận H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tham gia phiên tòa: Bà Hoàng

Thị Thu Giang, Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 05 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố

Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/2021/HSST ngày 28 tháng 04 năm 2021 đối với bị cáo:

PHÙNG MINH Đ, sinh năm 1983 tại H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:

số 27A, ngõ 2 An, tập thể công ty T, tổ 1, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Phùng Hữu Chỉnh và con bà Nguyễn Thị N; có vợ là Bùi Thị N và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; theo danh chỉ bản số 0144 ngày 19/01/2021 tại Công an quận H, Hà Nội bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 22/5/2020 bị Công an quận H xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền), về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” (đã nộp tiền ngày 18/6/2020); tiền án: không; Nhân thân: Tại Bản án số 112/2006/HSST ngày 29/8/2006 của Tòa án nhân dân huyện T, Hà Nội xử phạt 48 tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”, ra trại ngày 08/7/2009; Tại bản án số 39/2017/HSST ngày 17/3/2017 của Tòa án nhân dân quận H, Hà Nội xử phạt 27 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 28/12/2018; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2021 đến nay (hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 14/01/2021, Phùng Minh Đ là đối tượng sử dụng chất

ma túy đi xe ôm từ nhà đến khu vực bệnh viện 09, huyện T, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, Đ xuống xe đi bộ rồi gặp và mua của một người nam giới không quen biết trông giống người nghiện đang đứng ở lề đường 01 gói giấy màu trắng bên ngoài bọc túi nilon màu đen kích thước (0,5x1) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 300.000 đồng. Mua xong, Đ cầm gói ma túy rồi tiếp tục bắt xe ôm đi về. Về đến nhà, Đ lấy gói ma túy ra và sử dụng hết ½ gói, còn lại ½ gói Đ cất đi, nếu có ai hỏi mua thì bán lại với giá 200.000 đồng. Khoảng 15 giờ 38 phút cùng ngày, Đ đang ở nhà thì có Nguyễn Lê Hà G (tên thường gọi là H), sinh năm 1986, trú tại: khu tập thể D, tổ 4, phường L, quận H, gọi điện từ số xxxx.xxx.xxx đến số điện thoại xxxx.xxx.xxx của Đ hỏi mua 200.000 đồng ma túy heroine, Đ đồng ý và hẹn G ra khu vực đầu ngõ 2 đường N, tổ 13, phường M, quận H để giao dịch. Ngay sau đó, Đ cầm gói ma túy heroin ở tay và đi bộ ra điểm hẹn để bán ma túy cho G. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ đang đứng ở đầu ngõ 2 đường N, tổ 13, phường M, quận H thì bị tổ công tác Công an phường M phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông Công an quận H làm nhiệm vụ kiểm tra, bắt quả tang. Khi bị công an phát hiện Đ đã thả gói ma túy xuống mặt đường (cạnh chân phải của Đ) đã bị phát hiện thu giữ. Công an phường M đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùng Minh Đ, thu giữ và niêm phong vật chứng là 01 gói giấy màu trắng bên ngoài bọc túi nilong màu đen kích thước (0,5x1)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (Đ khai là ma túy của Đ đem đi để bán), đồng thời thu giữ 01 điện thoại di động iphone màu trắng số thuê bao xxxx.xxx.xxx của Đ.

Tại bản kết luận giám định số 799/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2021 của

Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng bên ngoài bọc nilon màu đen là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,152 gam”.

Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKS-HĐ ngày 26/04/2021 của Viện kiểm sát

nhân dân quận H, thành phố Hà Nội đã truy tố Phùng Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội

dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hà Nội

giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phùng Minh Đ về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật

hình sự 2015.

Xử phạt: Phùng Minh Đ từ 36 tháng tù đến 39 tháng tù.

* Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu

Iphone, vỏ màu trắng, số thuê bao xxxx.xxx.xxx thu giữ của Đ.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định

viên Lê Khắc Nam và bị cáo Phùng Minh Đ (bên trong có ma túy Heroine) không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm

nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H,

Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Minh Đ

khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/01/2021, tại khu vực đầu ngõ 2 đường N, tổ

13, phường M, quận H, thành phố Hà Nội, Tổ công tác công an phường M phối hợp với Đội cảnh sát giao thông Công an quận H trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang Phùng Minh Đ có hành vi cất giấu 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,152 gam với mục đích bán cho Nguyễn Lê Hà G kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện và bắt quả tang người cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Phùng Minh Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt đã được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm

tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi Đ nhận thức rõ ma túy là mặt hàng nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán nhưng vì động cơ tư lợi bị cáo vẫn mua về để bán lại cho các đối tượng nghiện khác nhằm kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy mà nó còn góp phần làm gia tăng tệ nạn là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm và các bệnh dịch nguy hiểm cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Phùng Minh Đ không

có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi vụ án bị phát hiện bị

cáo đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi

phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy về nhân thân bị cáo có 02 tiền án đều đã được xóa và 01 tiền sự còn trong thời hiệu. Điều đó cũng cho thấy mặc dù bị cáo đã được cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục song bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà ngày càng lao sâu vào con đường phạm tội. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra phải áp dụng hình

phạt bổ sung bằng tiền đối với Phùng Minh Đ. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đ.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ trong vụ án, Phùng Minh Đ khai mua

của đối tượng nam giới không quen biết tại khu vực Bệnh viện 09, huyện T, thành phố Hà Nội. Ngoài lời khai của Đ không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xử lý làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Nguyễn Lê Hà G: là người gọi điện thoại hỏi mua ma túy của

Phùng Minh Đ ngày 14/01/2021 để sử dụng. Tuy nhiên, G chưa gặp và chưa mua được ma túy của Đ nên chưa đủ căn cứ xử lý theo pháp luật. Cơ quan điều tra đã giáo dục nhắc nhở và thông báo về nơi cư trú của Giang để theo dõi, quản lý là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu trắng, số thuê bao

xxxx.xxx.xxx thu giữ của Đ. Quá trình điều tra đã làm rõ được Đ đã sử dụng điện thoại này vào việc trao đổi mua bán ma túy, xét đây là tài sản dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

- 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Khắc

Nam và bị cáo Phùng Minh Đ (bên trong có ma túy Heroine). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nªn tÞch thu tiªu huû.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của

pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại

Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

túy”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Phùng Minh Đ 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

14/01/2021.

3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106; khoản 2 Điều

136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

+ Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu

Iphone, vỏ màu trắng, số thuê bao xxxx.xxx.xxx (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/05/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H, thành phố Hà Nội).

- Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định

viên Lê Khắc Nam và bị cáo Phùng Minh Đ (bên trong có ma túy Heroine) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/05/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H, Hà Nội.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Phùng Minh Đ phải nộp 200.000

đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

- C«ng an quËn Hà Đông;

Cỡ chữ