vanban.org

Bản án 113/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2020. Về vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tâm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2020/HS-ST
Ngày 25 – 6 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Dân.

Ông Hà Trọng T.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đắc Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 425/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, (tên gọi khác: T Già) sinh năm: 1990, tại Cà Mau;

Nơi cư trú: số 107, đường K, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Trần Thị H (còn sống); Anh chị em ruột gồm 13 người, bị can là con thứ sáu trong gia đình; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01 lần, ngày 12/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 04/12/2018 và đã nộp án phí xong ngày 18/5/2018. Nhân thân xấu: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm 03 tháng tù và Năm 2011 cũng bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2020 đến ngày 14/02/2020 chuyển tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ ngày 11/02/2020, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau, kết hợp với Công an phường 7, thành phố Cà Mau tiến hành tuần tra khu vực khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau. Khi lực lượng đến hẽm chùa Cô Hồn thuộc khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau thì phát hiện Nguyễn Văn T và Lý Vũ Linh đang trao đổi mua bán trái phép chất ma túy nên bị bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm:

Thu giữ trong túi quần jean đang mặc ở phía sau bên phải của T một bịch ny lon bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong có chữ ký và ghi họ tên Nguyễn Văn T và Lý Vũ L.

Thu giữ của T số tiền 2.860.000 đồng, một điện thoại Oppo màu xanh đen màn hình bị bể không sử dụng được. Trong đó, có 200.000đ bị cáo thu lợi từ việc bán ma túy cho Lý Vũ L.

Tại kết luận giám định số 45/GĐH-PC09 ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bịch ny lon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu: M.14/2020, gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,2186 gam, loại Methamphetamine.

- Hoàn lại đối tượng giám định: 0,1796 gam mẫu ký hiệu 45/GĐH-PC09 đã niêm phong.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận:

Bản thân bị cáo không sử dụng ma túy, số ma túy bị bắt quả tang là của người bạn bị quen khi đi chấp hành án (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) cho, khi bị cáo đi đến Gold Mường Thanh chơi. Người bạn cho bị cáo ma túy để bị cáo sử dụng thử. Bị cáo nhận số ma túy để vào túi quần jean phía bên phải. Bị cáo chơi ở đó khoảng 01 tiếng thì về nhà. Đến gần 14 giờ ngày 11/02/2020, bị cáo nảy sinh ý định đem số ma túy đi bán để lấy tiền tiêu xài. Bị cáo đi bộ đến khu vực hẽm chùa Cô Hồn thì gặp Linh đang có nhu cầu mua ma túy để sử dụng. Khi Linh hỏi mua ma túy với giá 200.000đ thì bị cáo đồng ý bán, chuẩn bị giao ma túy cho Linh thì bị bắt quả tang.

Đối với số tiền 2.860.000 đồng cơ quan điều tra thu của bị cáo, trong đó, có 200.000 đồng là số tiền thu lợi từ việc bán ma túy cho L, còn lại số tiền 2.660.000 đồng là tiền của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với Lý Vũ L khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 11/02/2020, L đến khu vực khóm 7, phường 7, thành thành phố Cà Mau để mua ma túy về sử dụng, L gặp T hỏi mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, khi hai bên thỏa thuận xong chưa kịp nhận ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ trong túi quần của T một bịch ny lon bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy.

Tại cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 15/5/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T theo cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 15/5/2020 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2020.

Về vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 106, Điều 47 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn mẫu sau khi trích giám định đã niêm phong số 45/GĐH-PC09, ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen màn hình bị nứt, mở nguồn không được. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ là tiền thu lợi bất chính. Đối với các vật chứng khác đã được xử lý xong nên không đề cập xem xét.

- Bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện nên thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì khác. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 11/02/2020 bị cáo đã bán trái phép chất ma tuý là Methamphetamine có tổng trọng lượng 0,2186 gam cho Lý Vũ L tại hẻm chùa Cô Hồn thuộc khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của L cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và kết luận giám định.

Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây hoang mang, bất ổn trong quần chúng và làm mất an ninh, trật tự tại địa phương và chính sức khoẻ của người sử dụng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết được tác hại của ma tuý, bản thân bị cáo không nghiện ma túy, nhưng vì lợi nhuận bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất và hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bởi chính tác hại của ma tuý gây ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm hành vi vi phạm của bị cáo.

Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 03 tháng tù và Năm 2011 cũng bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong. Bị cáo còn có 01 tiền án vào năm 2018 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Lẽ ra, qua nhiều lần bị kết tội bị cáo phải thấy được lỗi lầm và sửa chữa bản thân làm người công dân tốt, có ít cho xã hội nhưng ngược lại bị cáo lại lao vào con đường phạm tội, điều này thể hiện bản tính bị cáo xem thường pháp luật, hình phạt tại các vụ án trước chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm đảm bảo tính giáo dục, răn đe, trừng trị và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu đã niêm phong số 45/GĐH-PC09, ngày 13/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen màn hình bị nứt, mở nguồn không được không liên đến vụ án, nhưng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 2.860.000đ: Trong đó, tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 200.000 đồng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Còn lại 2.660.000đ là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 25/02/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại số tiền trên cho bị cáo bà Trần Thị H mẹ của bị cáo nhận thay nên không đề cập giải quyết.

Đối với đối tượng cho ma túy mà bị cáo khai không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể. Vì vậy, giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ đề nghị xử lý sau.

Đối với Lý Vũ L có sử dụng ma túy và đang mua ma túy, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau chuyển hồ sơ về Công an xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xử lý theo thẩm quyền.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2020.

Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn mẫu đã niêm phong số 45/GĐH-PC09, ngày 13/02/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen màn hình bị nứt, mở nguồn không được (vật chứng do chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý).

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng do thu lợi bất chính mà có.

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng, chưa nộp) khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ