vanban.org

Bản án 113/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Hương G phạm tội:“Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Hương G 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 132 ngày 13/05/2019 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố H buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 ( hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Hương G - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Hương G phạm tội:“Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2020/HS-ST
Ngày: 26/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm

- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Quốc Sơn;

- Bà Trần Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90 ngày 13/4/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2020/QĐXXST-HS ngày 08/5/2019, đối với bị cáo: Phan Thị Hương G, Sinh năm: 1969; HKTT và nơi cư trú: Số 383 B, phường B, quận H, thành phố H; Trình độ văn hóa:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phan Huy T và bà: Trần Thị Bích L; bị cáo có chồng: Phạm Quang D và có 02 con Phạm Tiến Đ, sinh năm: 1994; Phạm Quang A, sinh năm: 2004.

Tiền sự: không

Tiền án: 01 tiền án: Bản án số 132 ngày 13/05/2019, Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xử phạt 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc

Nhân thân:

- Năm 1997, bị Công an phường K, quận Đ, thành phố H xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc.

- Năm 2000, bị Công an quận H, thành phố H xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Bản án số 145 ngày 01/9/2000, Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 400.000đồng) đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Văn B, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn T, Xã H, huyện T, tỉnh T ( vắng mặt) Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khối H, Phường N, thị xã C, tỉnh N ( vắng mặt) Anh Hoàng Bá T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn T, Xã H, huyện T, tỉnh T ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 00 giờ 20 phút ngày 05/02/2020, tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Na, thành phố H phát hiện, bắt quả tang Phan Thị Hương G, Lê Văn B (sinh năm 1986; trú tại: xã H, huyện T, tỉnh T), Nguyễn Văn H (sinh năm: 1985; trú tại: phường N, Thị xã C, tỉnh N) và Hoàng Bá T (sinh năm: 1988; trú tại: xã H, huyện T, T) đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài tiến lên miền Nam tại phòng trọ số 3, nhà 34, ngõ 201 phố C, phường T, quận N, thành phố H. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 2.490.000đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 22 giờ ngày 04/02/2020, Phan Thị Hương G đến phòng trọ của Lê Văn B, Nguyễn Văn H và Hoàng Bá T tại số 3, nhà 34, ngõ 201 phố C, phường T, quận N, thành phố H, cả bốn người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “Tiến lên miền Nam” được thua bằng tiền. Sau đó G, B, H, T cùng sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài có sẵn trong phòng để đánh bạc. Mỗi người sẽ được chia 13 quân bài, ván bài đầu tiên ai có quân “3 bích” thì được đánh bài trước, các ván sau ai thắng ván trước thì được đánh bài trước. Vòng đánh theo ngược chiều kim đồng hồ, người ra bài sau phải đánh bài cao hơn người ra bài trước. Thứ tự từ bé đến lớn của các quân bài lần lượt là 3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A,2. Khi chơi bài người nào đánh hết bài đầu tiên sẽ là người thắng, 03 người còn lại sẽ thua. Người thua phải trả cho người thắng cứ 5.000đồng cho mỗi quân bài còn lại trên tay. Đến 00 giờ ngày 05/02/2020, khi Phan Thị Hương G, Lê Văn B, Nguyễn Văn H và Hoàng Bá T đang đánh bạc thì bị Công an quận N phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận:

Phan Thị Hương G khai sử dụng 590.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt G đang thắng 50.000đồng, thu giữ tổng cộng 640.000đồng của G.

Lê Văn B khai sử dụng 500.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt B đang bị thua 50.000đồng; thu giữ 450.000 đồng của B.

Nguyễn Văn H khai sử dụng 400.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt H đang bị thua 200.000đồng; thu giữ 200.000đồng của H.

Hoàng Bá T khai sử dụng 1.000.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt T đang thắng 200.000đồng; thu giữ tổng cộng 1.200.000đồng của T.

Đối với Lê Văn B, Nguyễn Văn H và Hoàng Bá T đều chưa có tiền án, tiền sự; số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000đồng. Do đó, ngày 10/3/2020, Công an quận N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 140, 141, 142 đối với Nguyễn Văn H, Lê Văn B và Hoàng Bá T về hành vi “Đánh bạc” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CPngày 12/11/2013 của Chính Phủ, mức phạt mỗi người là 1.500.000đồng.

Bản cáo trạng số 93/CT-VKSNTL ngày 08/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Phan Thị Hương G về tội:“ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà: Bị cáo Phan Thị Hương G thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận N truy tố bị cáo về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phan Thị Hương G về tội:“ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 132 ngày 13/05/2019 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố H buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 21 tháng đến 24 tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/02/2020 được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày ( 08/01/2019 đến ngày 17/01/2019).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước:

Số tiền 2.490.000đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 05/02/2020, tại phòng trọ số 3, nhà 34, ngõ 201 phố C, phường T, quận N, thành phố H, Phan Thị Hương G có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Tiến lên miền Nam” cùng các đối tượng Lê Văn B, Nguyễn Văn H và Hoàng Bá T thì bị tổ công tác Đội

Cảnh sát hình sự Công an quận N, thành phố H phát hiện, bắt quả tang.Vật chứng thu giữ số tiền 2.490.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài. Tại bản án số 132 ngày 13/05/2019, Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xử phạt bị cáo Phan Thị Hương G 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc. Vì vậy hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn xâm phạm đến đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về phòng chống các tệ nạn xã hội, còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo phạm tội lần này đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại bản án số 132 ngày 13/05/2019 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xử phạt bị cáo Phan Thị Hương G 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc. Vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án số 132 ngày 13/5/2019 của Tòa án nhân dân quận H với hình phạt tù của bản án này.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước:

Số tiền 2.490.000đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Hương G phạm tội:“Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Hương G 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 132 ngày 13/05/2019 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố H buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 ( hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/02/2020 được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày (08/01/2019 đến ngày 17/01/2019) của bản án số 132 ngày 13/05/2019 Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: Số tiền 2.490.000 đồng ( theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 09.4.2020).

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài ( theo biên bản giao nhận vật chứng số 135 ngày 10/04/2020 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an quận N và chi Cục thi hành án quận N).

Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Phan Thị Hương G phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ