- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 113/2020/HS-ST Ngày: 20/10/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trương Quốc Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Dương Tấn Đấu
2/ Ông Nguyễn Phước Lộc
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Văn V, sinh năm: 1993, tại: A M Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp Thành Phụng T, xã Đ H, huyện A M, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C và bà La Thị L;
Tiền án: 01 lần; Ngày 17/8/2017 Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, Ngày 09/9/2019 chấp hành xong hình phạt tù theo giấy chứng nhận số 482/GCN do trại giam kênh 7 thuộc Bộ công an cấp.
Tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2020 (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ, ngày 27/7/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Văn V dùng điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, gọi cho 01 người tên V (chưa rõ nhân thân), đã quen biết được qua Zalo trước đó, hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy, V đồng ý và hẹn V đến một con hẻm tên Bờ Chuối, giáp với sân bay cũ, thuộc khu phố 10, thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, để mua bán ma túy. Khoảng 15 phút sau, theo hướng dẫn của V, V thuê xe mô tô đến điểm hẹn nhìn xuống dưới gốc cây có một bịch ma túy để sẵn ở đó, V lấy bỏ vào túi quần rồi lấy 1.500.000 đồng quấn tròn buộc sợi dây thung ném vào gốc cây nơi V để ma túy. Sau đó, V quay về phòng trọ thuộc khu phố 1, thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại V cất giấu trong túi quần để sử dụng.
Đến 16 giờ cùng ngày, Chiêm Quốc T đến rủ V đi uống cà phê (hai người đi bằng mô tô thuê, không nhớ biển số) tại quán “T K”, thuộc khu phố 1, thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc. Khi đến quán V và T gặp người bạn của V tên Lưu Công T đang ngồi uống cà phê một mình, V và T đến ngồi chung bàn, ba người nói chuyện qua lại một lúc thì T và T quay qua nói chuyện riêng. Khi đó, V thấy T móc trong túi quần ra đưa cho T 01 cái bịch màu trắng, T đưa cho T 600.000 đồng, liền lúc đó lực lượng Công an huyện Phú Quốc vào bắt quả tang T bán ma túy cho T. Qua kiểm tra phát hiện V đang tàng trữ 01 bịch ma túy trong túi quần bên phải để sử dụng. Ngày 04/8/2020, Lê Văn V bị khởi tố bị can, tạm giam để điều tra cho đến nay.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước khoảng 4.0cm x 3,9cm, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất đã được niêm phong; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMI 1: 357743107791361, số IMEI 2: 357745100697563 đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định số: 621/KL-KTHS ngày 31/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất được chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,2683 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 621/KL-KTHS ngày 31/7/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Bản cáo trạng số 119/CT-VKSPQ ngày 01 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lê Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Văn V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 3,127 gam ma túy loại Methamphetamine, còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu niêm phong.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMI 1: 357743107791361, số IMEI 2: 357745100697563 đã qua sử dụng.
Đối với Chiêm Quốc T và những người khác có liên quan đã bị Cơ quan Cảnh Điều tra – Công an huyện Phú Quốc khởi tố điều tra về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với 01 người tên V bán ma túy cho V, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh đối tượng khi nào bắt được sẽ xét xử sau.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án và lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội: Vào khoảng 16 giờ, ngày 27/7/2020 tại quán “T K”, thuộc khu phố 1, thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, Lê Văn V tàng trữ trái phép 3,2683 gam ma túy, loại Methamphetamine, trong túi quần để sử dụng thì Công an huyện Phú Quốc bắt quả tang cùng tang vật.
Qua giám định số 621/KL-KTHS ngày 31/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất được chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,2683 gam.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo Lê Văn V về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tuy nhiên, bị cáo biết và hiểu được điều đó nhưng để thõa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và cũng tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ ma túy tái hòa nhập cộng đồng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu niêm phong, đây là vật cấm lưu hành.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMI 1: 357743107791361, số IMEI 2: 357745100697563 đã qua sử dụng, bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn V 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/7/2020.
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 3,1276 gam ma túy loại Methamphetamine, còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu niêm phong.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMI 1: 357743107791361, số IMEI 2: 357745100697563 đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự huyện Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 79/QĐ-VKSPQ-HS ngày 01/10/2020)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND huyện Phú Quốc; - Nhà tạm giữ huyện Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA huyện PQ; - THA huyện Phú Quốc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Quốc Triều |