- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo PHAN THANH Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 18/9/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 128 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2020/HS-PT Ngày : 18/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thường.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình; Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 74/2020/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo PHAN THANH Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2020/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q.
Bị cáo có kháng cáo:
PHAN THANH Q - Sinh ngày: 20/01/2000 tại huyện A, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh M, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Đình T có ký hợp đồng giao khoán với Công ty Cổ phần-Tổng Công ty xây dựng và lắp máy V (gọi tắt là Công ty xây dựng và lắp máy V) để sản xuất các loại cống tại xưởng đúc cống công trường hồ Phú Hòa ở địa chỉ: Tổ 1B, khu vực 8, phường Đ, thành phố Q. Kèm theo hợp đồng, Công ty xây dựng và lắp máy V lập biên bản bàn giao một số tài sản cho ông Nguyễn Đình T là đại diện tổ nhân công quản lý, sử dụng trong quá trình làm việc, trong đó có xe nâng hiệu Heli màu cam, loại xe 10 tấn do Trung Quốc sản xuất. Sau đó ông Nguyễn Đình T đã thuê bị cáo PHAN THANH Q cùng ông Nguyễn Đình L, anh Phạm Thanh T, anh Dương Chí T, anh Quách Văn T, anh Lã Văn A làm công nhân đúc cống tại xưởng.
Đến khoảng 16 giờ ngày 20/5/2019, bị cáo PHAN THANH Q cùng Nguyễn Đình L, Phạm Thanh T, Dương Chí T, Quách Văn T, Lã Văn A đang làm việc tại xưởng thì bị cáo Q thấy một pallet cống bằng kim loại, nặng khoảng 600kg, loại D2000, đường kính lớn nhất 244cm, đường kính nhỏ nhất 200cm cách vị trí ông L đang ngồi khoảng 1m, chiếm diện tích chỗ làm nên bị cáo tự ý đến điều khiển xe nâng (hiệu Heli màu cam, loại xe 10 tấn) để chuyển pallet này sang vị trí khác mà không cảnh báo cho ông L. Trong lúc bị cáo điều khiển đưa càng xe nâng vào trong nâng pallet lên cao khoảng 40cm rồi điều khiển xe lùi về phía sau thì bánh sau xe vướng phải một pallet khác làm pallet trên càng xe nâng rơi xuống đè lên người ông L. Hậu quả, ông L chết trên đường đi cấp cứu.
Ngày 13/6/2019, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân ông Nguyễn Đình L chết do chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy+đa chấn thương.
Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2020/HS-ST ngày 28 ngày 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:
Tuyên bố: PHAN THANH Q phạm tội “Vô ý làm chết người”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo PHAN THANH Q 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 09 tháng 6 năm 2020, bị cáo PHAN THANH Q có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong sơ vụ án thể hiện: Khoảng 16h00’ ngày 20/5/2019, PHAN THANH Q (không có chứng chỉ vận hành xe nâng) đã tự ý điều khiển xe nâng hiệu Heli loại 10 tấn để chuyển pallet cống bằng kim loại sang vị trí khác nhưng không thông báo trước cho những người lao động khác biết. Bị cáo điều khiển xe nâng pallet thì bánh sau xe vướng phải một pallet khác rơi xuống đất đè trúng ông Nguyễn Đình L. Hậu quả, ông L chết do chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy, đa chấn thương. Do đó, bản án số 43/2020/HSST ngày 28/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xét xử bị cáo về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo PHAN THANH Q xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của bị hại một cách trái pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định, phạm tội do vô ý, gia đình bị hại cũng yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là phù hợp với Điều 2 Nghị Q số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC và đúng quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, HĐXX chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo PHAN THANH Q cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo PHAN THANH Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Q định khác của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Q ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo PHAN THANH Q. Sửa bản án sơ thẩm.
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo PHAN THANH Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 18/9/2020.
Giao bị cáo PHAN THANH Q cho UBND xã An Hòa, huyện A, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Q định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo PHAN THANH Q không phải chịu.
3. Các Q định khác của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT Công an thành phố Q; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Q; - Chi cục THADS thành phố Q; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thường |