vanban.org

Bản án 113/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lò Phƣơng N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Phƣơng N 24 (Hai mươi bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/6/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ PHƯƠNG N -TÀNG TRỮ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Phƣơng N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2019/HSST
Ngày 16 tháng 10 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Kiên và ông Hà Văn Cương

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung là Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2019/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Lò Phƣơng N, sinh năm 1983, tại huyện S M, tỉnh Sơn La

Trú tại: Bản H, xã Chiềng Kh, huyện S M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Lò Văn H (đã chết) và bà Cầm Thị P; Có vợ là Lò Thị Th và 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2019 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 6 năm 2019, tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương làm nhiệm vụ tại bản Híp, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã đã phát hiện, bắt quả tang Lò Phương N, sinh năm 1983, trú tại bản H, xã Chiềng Kh, huyện S M, tỉnh Sơn La đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Thu trong lòng bàn tại trái của N 02 gói nilon màu xanh, bên trong gói nilon thứ nhất có 03 viên nén màu hồng, bên trong gói nilon thứ hai có 05 viên nén màu hồng (N khai nhận là hồng phiến); 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng đồng, số Imeil 1: 866346031915499, số Imeil 2: 866346031915481; 01 bật lửa ga màu trắng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng toàn bộ vật chứng của vụ án.

Ngày 26/6/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 08 viên nén màu hồng thu giữ của N có khối lượng là 0,83 gam; trích 03 viên, khối lượng 0,29 gam làm mẫu giám định, ký hiệu N1, N3. Còn lại 05 viên, khối lượng 0,54 gam, ký hiệu N2, N4 làm vật chứng lưu kho.

Kết luận giám định số 1181 ngày 27/6/2019 của Phòng KTHS - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu N1, N3 là ma túy, loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,29 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,83 gam, loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra Lò Phương N khai nhận hành vi phạm tội như sau:

N là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2017. Khoảng 12 giờ ngày 25/6/2019, Lò Phương N đang ở nhà tại bản H, Chiềng Kh, S M thì có người bạn tên Th nhà ở bản Liên Hồng, Chiềng Khương đến chơi, trong lúc ngồi nói chuyện N hỏi mua 09 viên hồng phiến và hẹn 2 ngày sau sẽ trả tiền, Th đồng ý rồi lấy đưa cho N 01 gói nilon màu trắng bên trong có 09 viên hồng phiến xong Th đi về, còn N lấy 01 viên ra sử dụng bằng hình thức hít. Còn 08 viên N gói thành 02 gói (01 gói có 03 viên, 01 gói có 05 viên) được gói bằng mảnh nilon màu xanh rồi cất giấu ở trong túi quần đang mặc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày N cầm 02 gói viên hồng phiến ở lòng bàn tay trái đi ra suối Huổi Híp thuộc bản H, Chiềng Kh cách nhà khoảng 100 mét để sử dụng, khi ra đến gần suối thì bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng của vụ án.

Bản Cáo trạng số: 113/CT-VKSSM ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố bị cáo Lò Phương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Phương N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Phương N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lò Phương N: Từ 18 đến 24 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Phương N không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Diễn biến tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lò Phương N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Sông Mã lập hồi 20 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 6 năm 2019. Vật chứng của vụ án là chất ma túy loại Methamphetamine. Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 25/6/2019 Lò Phương N đang tàng trữ chất ma tuý là 08 viên nén màu hồng, loại Methamphetamine có khối lượng 0,83 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Phương N đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của bị cáo ngày 25/6/2019. Bị cáo N khai mua nợ của Trần Văn Th ở bản Liên Hồng, Chiềng Khương, Sông Mã. Quá trình điều tra lấy lời khai và ngày 22/7/2019 cơ quan CSĐT công an huyện Sông Mã đã tiến hành cho đối chất giữa Lò Phương N và Trần Văn Th. Nhưng Thọ không thừa nhận được bán ma túy chịu cho Lò Phương N vào ngày 25/6/2019. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi bán trái phép chất ma túy của Trần Văn Th, buộc bị cáo Lò Phương N phải chịu trách nhiệm với số ma túy đã tàng trữ và bị bắt giữ, thu giữ ngày 25/6/2019 gồm 08 viên nén màu hồng, khối lượng 0,83 gam, loại Methamphetamine.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 05 viên ma túy, khối lượng 0,54 gam, loại Methamphetamine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 bật lửa ga màu trắng hiệu TANAKA; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng đồng, số Imeil 1: 866346031915499, số Imeil 2: 866346031915481.

Đối với 05 viên ma túy, khối lượng 0,54 gam, loại Methamphetamine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 bật lửa ga màu trắng hiệu TANAKA là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và những vật không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng đồng, số Imeil 1: 866346031915499, số Imeil 2: 866346031915481. Được xác định là tài sản của bị cáo Nam, nhưng bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lò Phương N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Lò Phƣơng N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lò Phƣơng N 24 (Hai mươi bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/6/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu để tiêu huỷ: 05 viên ma túy, khối lượng 0,54 gam, loại Methamphetamine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 bật lửa ga màu trắng hiệu TANAKA.

- Trả lại cho bị cáo Lò Phương N 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng đồng, số Imeil 1: 866346031915499, số Imeil 2: 866346031915481.

Những vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 45 phút ngày 24 tháng 9 năm 2019 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Phương N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ