vanban.org

Bản án 113/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 19/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số- 113-2019-HS-ST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2019/HS-ST.
Ngày 19/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thảo

Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.

2. Bà Trần Thị Thanh Khiêm

Nghề nghiệp: Cán bộ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Hương - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2019/TLST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2019/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn C, sinh ngày 17/2/1983;

Nơi ĐKHKTT: Thôn An Lạc 2, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi ở: Tổ 3, phường H, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.

Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đinh Văn P(đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1952; anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ năm; vợ: Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1987; con: Có 01 con, sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1982

Trú tại: Thôn M, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/5/2019, Đinh Văn C, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT thôn An Lạc 2, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở tổ 3 (nay là tổ 2), phường H, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang (là người nghiện ma túy), gọi điện thoại cho một người đàn ông, theo C khai nhận tên là L, không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể; Chí hỏi mua Heroine của L, hẹn gặp nhau tại ngã ba đường rẽ lên cầu T thuộc phường H, thành phố Q. Chí gặp và mua được của người đàn ông tên Lợi 01 gói Heroine bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với số tiền 100.000 đồng. Chí cất dấu gói Heroine vừa mua được vào trong người và đi về nhà lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số còn lại C cất giấu trong người. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/5/2019, C mang theo gói Heroine trong người, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Supper Cup, biển kiểm soát 22H1-3905 (xe mô tô C mượn của Anh Trịnh Văn S, trú tại Thôn M, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang), đi tìm chỗ vắng người để sử dụng, khi đến khu vực tổ 1, phường H, thành phố Q thì bị Tổ công tác Công an phường H phát hiện, C bỏ lại chiếc xe mô tô, ném gói Heroine xuống mặt đường cạnh xe mô tô rồi bỏ chạy. Tổ công tác đã truy đuổi bắt giữ được C và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 16 giờ 45 phút cùng ngày, thu giữ 01 gói Heroine.

Tại kết luận giám định số 352/GĐKTHS ngày 15/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà trong 01 gói nhỏ thu giữ của Đinh Văn C, gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, số thứ tự 09 thuộc danh mục 1A, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ; có khối lượng là 0,104g (không phẩy một một sáu gam).

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Đinh Văn C, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể, C khai nhận ngày 08/5/2019 có sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của C.

Tại Cáo trạng số 112/CT-VKSTP, ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đã truy tố Đinh Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Văn C từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phần án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Anh Trịnh Văn S xác định anh S không liên quan đến việc bị cáo C tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, anh S đề nghị được xin lại xe mô tô nhãn hiệu Supper Cup, biển kiểm soát 22H1-3905, đó là phương tiện đi lại hàng ngày của anh S. Tại phiên tòa ánh S vắng mặt, có đơn trình bày giữ nguyên lời khai như giai đoạn điều tra và đề nghị được lấy lại xe mô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể bị cáo, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Hồi 16 giờ 45 phút, ngày 13/5/2019, tại khu vực tổ 1, phường H, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Đinh Văn C, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT thôn An Lạc 2, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở tổ 3 (nay là tổ 2), phường H, thành phố Q (là người nghiện ma túy), đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,104g (không phẩy một không bốn gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất Heroine mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.

Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án, xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà Nước, có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, có trình độ học vấn hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật. Do ăn chơi đua đòi nên bị cáo nghiện chất ma túy, để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện hoàn toàn do lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình; bị cáo nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo ông Đinh Văn P được tẳng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo có ý thức tích cực rèn luyện, cải tạo tốt trong thời gian thi hành hình phạt tù để sớm được trở về hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cùng với vợ của bị cáo nuôi dạy con nhỏ trưởng thành.

Mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích mua bán thu lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã thu giữ 01 phong bì niêm phong bên trong có Heroine đã thu giữ của bị cáo, trên các mép dán ngoài phòng bì có chữ ký của bị cáo, các thành phần tham gia niêm phong và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, số ma túy này cần tịch thu tiêu hủy; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Supper Cup, BKS 22H1-3905, xe mô tô của Anh Trịnh Văn S, khi cho bị cáo mượn xe anh S không biết bị cáo dùng vào mục đích đi để sử dụng ma túy, cần trả lại xe mô tô cho anh S; tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, tại phiên tòa bị cáo khai có dùng điện thoại để gọi điện trao đổi với người đàn ông tên là L mua Heroine, nhưng quá trình điều tra có kiểm tra bộ nhớ lưu trữ của điện thoại và sim điện thoại không chứng minh được bị cáo dùng điện thoại này để trao đổi mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Công an thành phố Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 377 ngày 15/7/2019, phạt cảnh cáo.

Đối với người đàn ông, theo C khai nhận tên là L ngày 08/5/2019 đã bán Heroine cho C tại khu vực ngã ba đường rẽ lên cầu T thuộc khu vực Phường H, thành phố Q. Nhưng không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Trịnh Đình S; trú tại Thôn M, xã C, huyên S, tỉnh Tuyên Quang, khi cho Đinh Văn C mượn xe mô tô anh Siển không biết việc C sử dụng xe để đi mua ma túy nên không xem xét xử lý.

Hội đồng xét xử không xem xét xử lý những nội dung trên.

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, nhưng được trừ đi số tiền mà người nhà bị cáo đã tạm nộp thay cho bị cáo, có biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/5/2019.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có chữ ký của bị cáo, thành phần tham gia và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có Heroine thu giữ của bị cáo.

Trả lại cho bị cáo Đinh Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M389.

Trả lại cho Anh Trịnh Văn S 01 xe mô tô nhãn hiệu Supper Cup, biển kiểm soát 22H1-3905.

(Tình trạng vật chứng được thể hiện như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/9/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q)

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Đinh Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Nhưng được trừ đi khoản tiền tạm nộp do người nhà bị cáo nộp thay, số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền số 0001239, ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q. Bị cáo đã nộp đủ án phí.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ