- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2019/HS-ST Ngày 28 -11- 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sở; Ông Lục Văn Vãn
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2019/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo.
Họ và tên: Trần Quang H (Tên gọi khác: Trần Việt H) - Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1972 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Việt H và bà Nguyễn Thị H. Bị cáo có vợ là Phạm Thị H và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2019 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. “Có mặt”.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Duy Chinh - Nơi cư trú: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 03/10/2019, Trần Quang H một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Click, biển kiểm soát 24R1 - 1188 đi từ nhà đến khu vực gầm cầu Phố Mới thuộc phường Phố Mới, thành phố Lào Cai với mục đích để tìm mua ma túy Heroine sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Trần Quang H nhìn thấy Đỗ Lâm G, sinh năm 1963, cư trú tại tổ 3, phường K, thành phố L đang đứng ở ven đường, H đến hỏi “Anh có ma túy Heroine bán không?”, G trả lời “Mua bao nhiêu”, H bảo “Mua bốn trăm nghìn” và lấy 400.000 đồng từ trong túi áo ngực đưa cho G, G cầm tiền và đưa cho H 04 gói giấy bạc là ma túy Heroine, H cầm cất giấu vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đi đến đường Khánh Yên kéo dài thuộc xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Công an tỉnh Lào Cai kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Tại Kết luận giám định số 219/GĐMT ngày 05/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,24 gam chất bột khô, mầu trắng, vón cục thu giữ trên người Trần Quang H ngày 03/10/2019 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Quang H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 113/CT-VKS - TPLC ngày 11/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo.Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung lắp 01thẻ sim 0386531979.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang H: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội do bị cáo là người nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 03/10/2019, tại khu vực gầm cầu Phố Mới thuộc phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, Trần Quang H đã mua của đối tượng Đỗ Lâm G 04 gói Heroine với giá 400.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi về đến đường Khánh Yên kéo dài thuộc xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Công an tỉnh Lào Cai kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng Heroine bị cáo mua để sử dụng là 0,24 gam. Như vậy, với hành vi và số lượng ma túy như trên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm s khoản 1điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm 5.000.000 đến 500.000.000 đồng...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, lại nghiện ma túy nên không có thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,24 gam chất ma túy Heroine sau khi trích mẫu giám định số ma túy còn lại cần tịch thu tiêu hủy; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo; Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung lắpthẻ sim 0386531979.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Quang H (Trần Việt H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’. Xử phạt bị cáo Trần Quang H 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,17 gam chất ma túy Heroine được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định tịch thu trong vụ Trần Quang H có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 03 tháng 10 năm 2019 tại thôn Hồng Sơn, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Tạm giữ của bị cáo Trần Quang H số tiền 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) được gửi tại Kho bạc nhà nước Lào Cai để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Trần Quang H số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam Sung, số IMEI: 355677063333526/1, 355695063333528/1, lắp thẻ sim 0386531979
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Quang H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - Cơ quan ĐT Công an TP; - Trại tạm giam; - Sở tư pháp; - T.H.A 2; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |