- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Minh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 22/4/2019 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương; sửa quyết định của Bản án sơ thẩm 62/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2019/HS-PT Ngày: 09-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
- Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Luông;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2019, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 100/2019/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Đoàn Minh T. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2019/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Đoàn Minh T, sinh năm 1992, t i tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú:Số nhà 7/41, khu phố 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn H, sinh năm 1963 và bà Trần Cẩm H, sinh năm 1965, bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo t i ngo i, có mặt t i phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có đ i diện hợp pháp của bị h i, bị h i, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2014, Đoàn Minh T được Sở Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy phép lái xe h ng FC số 740142021698, có giá trị đến ngày 30/3/2023.
Đoàn Minh T và ông Võ Chí H là b n bè quen biết. Ông Võ Chí H là chủ sở hữu xe ô tô tải mang biển số 60C-287.19. Do không có tài xế nên ông Võ Chí H nhờ Đoàn Minh T điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-287.19, Đoàn Minh T đồng ý. Khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 30/8/2018, Đoàn Minh T trực tiếp điều khiển xe ô tô tải của ông Võ Chí H lưu thông trên đường ĐT744 theo hướng từ huyện D, tỉnh Bình Dương về xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khi qua ngã ba R thuộc ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương khoảng hơn 17m thì va ch m vào phần đuôi xe mô tô biển số 65B2-094.57 do bà Trần Thị Kiều M trực tiếp điều khiển chở bà Lâm Thị H ch y phía trước cùng chiều. Tai n n xảy ra làm bà Trần Thị Kiều M tử vong t i hiện trường, bà Lâm Thị H bị thương được đưa đi cấp cứu t i Bệnh viện Chợ Rẫy đến ngày 28/09/2018 thì xuất viện.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe ô tô tải biển số 60C-287.19; 01(một) xe mô tô biển số 65B2-094.57; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Minh T; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Đoàn Minh T; 01(một) chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Kiều M.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 20 giờ 00 phút ngày 30/8/2018 t i đường ĐT744, thuộc ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương xác định:
- Đo n đường xảy ra tai n n là đường thẳng hai chiều có dải phân cách mềm, mặt đường được trải nhựa cứng bằng phẳng, phần đường hướng lưu thông từ ngã ba R đến P rộng 9,5m được chia thành 2 làn bằng v ch sơn không liên tục, khu vực hiện trường không có đèn chiếu sáng.
- Trên đường ĐT744 hướng từ ngã ba R đến xã P lấy trụ điện số 33 bên phải làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải làm lề chuẩn, xác định: Xe ô tô tải biển số 60C-287.19 đậu trong làn đường gần dải phân cách mềm, đầu quay về hướng P, đuôi xe hướng về ngã ba R; bánh xe ngoài cùng bên phải trục thứ 4 cách điểm mốc 16,6m, cách lề chuẩn 5,3m; bánh xe ngoài cùng bên phải trục thứ 1 cách lề chuẩn 5,6m; bánh xe ngoài cùng bên trái trục thứ 4 cách dải phân cách cứng 17m.
+ Xe mô tô biển số 65B2-094.57 ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng xéo vào lề chuẩn 08m, trục trước cách lề chuẩn 6,7m, trục sau cách lề chuẩn 7,8m. Xe để l i vết cày dài 01m8, đầu vết cày cách lề chuẩn 08m và cách bánh xe bên trái trục thứ 1 là 10,6m.
Theo Biên bản khám xe mô tô biển số 65B2-094.57 do va ch m với xe ô tô biển số 60C-287.19 và mặt đường để l i vết cày sau: Xây sát cản sau bên trái, cách mặt đất 0,85m khi xe dựng chống đứng. Xây sát ống xả, cánh bửng phải, thắng tay phải.
Theo biên bản khám xe ô tô biển số 60C-287.19 do va ch m với xe mô tô biển số 65B2-094.57: Xây sát, tróc sơn cản trước kích thước (2x2)cm, cách mặt đất 0,85m, vỏ bánh xe bên trục thứ 2 dính vết máu màu đỏ và biểu bì.
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 699/PC099-GĐPY ngày 02/09/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tình Bình Dương xác định: Bà Trần Thị Kiều M chết do đa chấn thương, choáng đa thương, choáng mất máu, suy hô hấp.
Theo Kết luận giám định thương tích số 371/GĐPY ngày 11/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lâm Thị H do thương tích gây ra là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
Qua xác minh được biết xe ô tô biển số 60C-287.19 do bà Nguyễn Thị H đứng tên chủ sở hữu, bà Nguyễn Thị H đã bán l i cho ông Võ Chí H, ông Võ Chí H chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 29/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe ô tô biển số 60C-287.19 cho ông Võ Chí H.
Đối với xe mô tô biển số 65B2-094.57 do ông Lâm Văn H, sinh năm 1976, HKTT: Số 28/7A, khu vực Y, phường B, quận E, thành phố Cần Thơ đứng tên chủ sở hữu. Ông Lâm Văn H và bà Trần Thị Kiều M là vợ chồng nhưng đã ly hôn. Sau đó ông Lâm Văn H giao l i xe mô tô 65B2-094.57 cho bà Trần Thị Kiều M và Lâm Thị H làm phương tiện đi l i. Ngày 29/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B ra quyết định trao trả xe mô tô biển số 65B2-094.57 l i cho bà Lâm Thị H.
Ngày 22/11/2018, t i Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, ông Trần Văn L(là người đ i diện hợp pháp của bà Trần Thị Kiều M và đ i diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị H) yêu cầu Đoàn Minh T và Võ Chí H bồi thường 650.000.000 đồng. Ông Võ Chí H đồng ý hỗ trợ 3000.000.000 đồng. Số tiền còn l i, ông Trần Văn L đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 về án treo.
Xử ph t bị cáo Đoàn Minh T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm; thời h n thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/4/2019, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 22/4/2019 đối với Bản án sơ thẩm 62/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương về hình ph t đối với bị cáo Đoàn Minh T.
T i phiên tòa, đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tuyên ph t bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo là không nghiêm, không phù hợp với nội dung vụ án. Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương cho rằng bị cáo Đoàn Minh T điều khiển ô tô gây tai n n làm chết một người, bị thương một người (tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68%).Việc bồi thường dân sự chưa giải quyết xong, đã bồi thường 300.000.000 đồng, còn l i 350.000.000 đồng. Căn cứ mức độ thiệt h i và trách nhiệm dân sự của vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo mức hình ph t 02 (hai) năm nhưng cho hưởng án treo là chưa nghiêm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng áp dụng hình ph t tù đối với bị cáo Đoàn Minh T.
Trong phần tranh luận, bị cáo cho rằng đ i diện gia đình bị h i cũng xin hưởng án treo cho bị cáo. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm việc bồi thường cho gia đình bị h i.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 30/8/2018, Đoàn Minh T điều khiển xe ô tô biển số 60C-287.19 lưu thông trên đường ĐT 744 theo hướng từ huyện D, tỉnh Bình Dương về xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khi qua ngã ba R hơn 17m do không giữ khoảng cách an toàn nên đã va ch m với xe mô tô biển số 65B2-094.57 do bà Trần Thị Kiều M điều khiển chở bà Lâm Thị H ch y phía trước cùng chiều. Hành vi của bị cáo Đoàn Minh T đã vi ph m quy định t i khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả của vụ tai n n, bà Trần Thị Kiều M tử vong t i hiện trường, bà Lâm Thị H bị thương tích 68%.
T i khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe như sau:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình…”
T i Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phải cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
…”
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung là “Làm chết người” và “Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” theo quy định t i điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đoàn Minh T là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bị cáo thấy trước được việc tham gia giao thông không giữ khoảng cách an toàn là hành vi nguy hiểm cho người tham gia giao thông khác nhưng bị cáo chủ quan cho rằng hậu quả không xảy ra nên bị cáo đã thực hiện hành vi ph m tội. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, xâm h i đến an toàn trật tự giao thông công cộng. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được việc làm của mình là vi ph m pháp luật nhưng bị cáo vẫn thiếu ý thức khi tham gia giao thông và gây ra cái chết thương tâm cho bị h i Trần Thị Kiều M và gây tổn thương cơ thể bị h i Lâm Thị H với tỷ lệ 68%. Trong thời gian qua, vấn đề về an toàn giao thông là vấn đề lo ng i và quan tâm của toàn xã hội. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, những tai n n giao thông xảy ra do việc thiếu ý thức khi tham gia giao thông diễn ra ngày càng phức t p, gây hoang mang cho người dân tham gia giao thông. Hành vi ph m tội của bị cáo đã để l i hậu quả nghiêm trọng, chết một người và bị thương một người. Do đó, hành vi ph m tội của bị cáo cần phải được xử ph t bằng hình ph t nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục, cải t o bị cáo trở thành người sống có ý thức, có ích hơn cho xã hội.
Từ những phân tích trên, xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương, sửa Bản án sơ thẩm về áp dụng hình ph t từ hình ph t tù cho hưởng án treo sang hình ph t tù đối với bị cáo Đoàn Minh T.
Ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Minh T không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1/ Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 22/4/2019 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương; sửa quyết định của Bản án sơ thẩm 62/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử ph t bị cáo Đoàn Minh T 02 (hai) năm tù về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đoàn Minh T không phải nộp.
3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị xã B; 2 - VKSND thị xã B; 1 - Chi cục THADS thị xã B; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị xã B; 1 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo; 1 - Lưu: Tổ HCTP, HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huỳnh Đức |