- Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG THỊ LỢI - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị L. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2019/HS-PT Ngày: 06/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các Thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng
Ông Nguyễn Gia Lương
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên .
Ngày 06/9/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 155/2019/TLPT-HS ngày 26/7/2019 đối với bị cáo Hoàng Thị L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 91/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Thị L, sinh năm 1955, tên gọi khác: Không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà 07, ngõ 132, đường M1, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 0/10; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D, sinh năm 1923 và bà Hoàng Thị C (đã chết); có chồng: Dương Văn L1 (đã chết) và có 01 con sinh năm 1979; nhân thân: Bản án số 217/HSST ngày 25/9/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2019 đến ngày 25/4/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 06 giờ 27 phút ngày 03/01/2019, tại nhà Hoàng Thị L ở số nhà 07, ngõ 132, đường M1, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Công an thành phố B bắt quả tang Khổng Đình H và Hà Văn K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy; Hoàng Thị L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán kiếm lời.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói giấy bạc có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng bên trong đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine, thu giữ trong túi quần sau bên phải của K đang mặc (niêm phong ký hiệu “Số 01”).
- 01 túi nilon mầu đen, trong có một gói giấy báo có nhiều chữ bên trong đựng chất cục bột mầu trắng; 10 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu vàng, mặt trong mầu trắng, bên trong đều đựng chất cục bột mầu trắng; 04 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng, bên trong đều đựng chất cục bột mầu trắng. Tất cả nghi là chất ma túy Heroine thu giữ tại lòng bàn tay trái của Hoàng Thị L khi bị bắt giữ (niêm phong ký hiệu “Số 02”).
- Thu giữ tại túi quần, túi áo của Khổng Đình H đang mặc số tiền 1.178.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng là tiền H có được do bán trái phép chất ma túy cho K) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo mầu đen có số IMEL 1 là 869525022959130, số IMEL 2 là 869525022959122.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Thị L phát hiện, thu giữ gồm:
- Thu giữ tại mặt ghế salon, trong phòng thờ tầng 2 nhà L 02 gói nilon mầu đen quấn bên ngoài bằng dây chun, bên trong mỗi gói nilon đều đựng 01 gói giấy báo có nhiều chữ quấn bên ngoài bằng dây chun, bên trong mỗi gói giấy báo đều đựng 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ đều được quấn bên ngoài bằng dây chun, bên trong mỗi túi nilon đều đựng chất cục bột mầu trắng nghi là chất ma túy Heroine (niêm phong ký hiệu “KX1”).
- Thu giữ trên giàn hoa giấy trước ban công tầng 2 nhà L 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong có:
+ 08 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu vàng, mặt trong mầu trắng, bên trong đều đựng chất cục bột mầu trắng nghi là chất ma túy;
+ 06 gói giấy bạc đều đều có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột mầu trắng nghi là chất ma túy;
+ 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ bên trong đựng 01 gói giấy bạc có mặt ngoài mầu vàng, mặt trong mầu trắng bên trong gói giấy bạc đựng chất cục bột mầu trắng nghi là chất ma túy;
+ 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ bên trong đựng 11 gói giấy bạc đều có hai mặt mầu trắng bạc, bên trong mỗi gói giấy bạc đều đựng chất cục bột mầu hồng đỏ nghi là chất ma túy (tất cả niêm phong ký hiệu “KX2”).
- Thu giữ tại mặt nền nhà phòng thờ tầng 2 nhà L gồm: Chất cục bột mầu trắng nghi là chất ma túy, được cho vào 01 gói giấy bạc có mặt ngoài mầu trắng bạc mặt trong mầu trắng rồi gói lại và cho vào 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ (niêm phong ký hiệu “KX3”).
- Thu giữ tại phòng thờ tầng 2 nhà L 10 túi nilon mầu trắng, một đầu mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ.
- Thu giữ trong phòng thờ tầng 2 nhà L số tiền 19.178.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel mầu đen.
- Thu giữ trong phòng ngủ tầng 1 nhà L số tiền 37.450.000 đồng và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Hoàng Thị L.
Ngày 03/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định trưng cầu giám định gửi Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang để giám định vật chứng thu giữ được nghi là chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 23/KL- KTHS ngày 07/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “Số 01” đã được niêm phong gửi giám định: Chất bột mầu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,062 gam.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “Số 02” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 gói nilon mầu đen, bên trong đựng 01 gói giấy báo có nhiều chữ, bên trong gói giấy báo:
+ Chất cục bột mầu trắng là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,637 gam.
+ Chất cục bột mầu trắng đựng trong 10 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu vàng, mặt trong mầu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,054 gam.
+ Chất cục bột mầu trắng đựng trong 04 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,977 gam.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “KX1” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột mầu trắng đựng 02 túi nilon mầu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 37,137 gam (cách thức đóng gói, gói bọc ngoài mỗi túi nilon được mô tả chi tiết tại phần II. ĐỐI TƯỢNG GỬI GIÁM ĐỊNH, mục 2.3).
- Trong 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ đã được niêm phong trong 01 phong bì thư có ký hiệu “KX2” gửi giám định:
+ Chất cục bột mầu trắng đựng trong 08 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu vàng, mặt trong mầu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,746 gam.
+ Chất cục bột mầu trắng đựng trong 06 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,780 gam.
+ Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có mặt ngoài mầu vàng, mặt trong mầu trắng, được đựng trong 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,121 gam.
+ Chất cục bột mầu hồng đỏ đựng trong 11 gói giấy bạc đều có hai mặt mầu trắng bạc, được đựng trong 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,237 gam.
- Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KX3” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng, được đựng trong 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,056 gam (BL 87- 89).
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Hoàng Thị L và Khổng Đình H có mối quan hệ quen biết nhau, hàng ngày H đến nhà L để quét dọn nhà cho L. Khoảng 18 giờ ngày 02/01/2019, L từ nhà đi sang khu vực bờ đê C1 1, phường P, thành phố B, mục đích mua ma túy mang về bán kiếm lời. Đến khu vực bờ đê C1 1, L mua được 01 túi nilon mầu đen, bên trong đựng ma túy với giá 1.200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. L mang số ma túy mua được về nhà cất giấu vào túi áo khoác đang mặc rồi lên tầng 2 ngủ. Khoảng 04 giờ ngày 03/01/2019, thấy tiếng chó sủa nhiều, sợ bị kẻ gian trộm cắp gà, vịt của gia đình nên L thức dậy đi ra khu vực trước cửa nhà thì thấy cạnh gốc cây có 01 túi nilon mầu trắng quấn dây chun bên ngoài, bên trong có nhiều gói giấy bạc đựng ma túy. L cầm túi ma túy này vào nhà rồi để ở chỗ để chiếc xe đạp điện gần cửa ra vào nhà, rồi lên tầng 2 ngủ tiếp. Khoảng 05 giờ cùng ngày, Khổng Đình H đến cửa nhà L, gọi L xuống mở cửa để H vào quét dọn nhà. L xuống tầng 1 mở cửa cho H vào nhà rồi lại lên tầng 2 ngủ tiếp. Khoảng 06 giờ cùng ngày, L thức dậy đi sang phòng thờ tầng 2 và bỏ túi ma túy ở trong túi áo khoác ra (túi ma túy mà L mua được ngày 02/01/2019) để ở nền nhà rồi chia thành nhiều gói ma túy nhỏ để bán.
Sau khi vào nhà L, H cầm chổi quét dọn nhà thì thấy ở chỗ để chiếc xe đạp điện, gần cửa ra vào có 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa quấn dây chun bên ngoài, bên trong có nhiều gói giấy bạc đựng chất ma túy Heroine. Thấy vậy, H cầm túi nilon có chứa chất ma túy này cất giấu trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân và nếu có ai mua thì bán để kiếm lời. H đi vào trong bếp tầng 1 nhà L, lấy ra 01 gói ma túy Heroine sử dụng. Khi H vừa sử dụng ma túy xong thì có Hà Văn K đến gõ cửa nhà L. H ra mở cửa, Kvào trong nhà và hỏi mua của H 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng, H đồng ý. H cầm 100.000 đồng K đưa cho rồi lấy từ trong túi nilon ra 01 gói giấy bạc có chứa chất ma túy Heroine đưa cho Khoa. Kcầm gói ma túy H đưa, cất vào túi quần phía sau bên phải đang mặc. Khi K vừa cất giấu ma túy vào túi quần thì có Phùng Văn H1 vào nhà L. H1 hỏi H là bà L đâu thì H bảo H1 là bà L đang ngủ trên tầng, H1 hỏi mua ma túy của H nhưng H bảo H1 là hết ma túy rồi. Lúc này tại phòng thờ tầng 2, L đang chia ma túy thành nhiều gói nhỏ thì thấy có tiếng động ở trên mái nhà nên L vội vàng gói lại số ma túy vào trong gói nilon mầu đen, quá trình gói bị vãi một ít ma túy ra nền nhà. Khi L đang cầm ma túy ở lòng bàn tay trái thì Công an ập vào nhà L kiểm tra. Thấy vậy, H cầm túi nilon chứa số ma túy còn lại chạy lên ban công tầng 2 nhà L và ném túi nilon chứa ma túy ra phía giàn hoa giấy rồi chạy quay lại khu vực cầu thang thì bị bắt giữ. Đồng thời lúc này tại phòng thờ tầng 2 nhà L, Công an cũng bắt quả tang L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán kiếm lời.
Đối với Hà Văn K là người mua trái phép chất ma túy Heroine của Khổng Đình H để sử dụng. Tuy nhiên trọng lượng ma túy Heroine mà K tàng trữ không đủ để xử lý hình sự. Ngày 29/3/2019, Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với hành vi Khổng Đình H bán trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Hoàng Thị L. Qúa trình điều tra xác định L và các thành viên trong gia đình L không biết việc H bán trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 29/3/2019, Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khổng Đình H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với Phùng Văn H1 là đối tượng hỏi mua ma túy của Khổng Đình H nhưng H1 chưa mua được ma túy của H thì bị bắt nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với H1.
Đối với người bán ma túy cho Hoàng Thị L, do L khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ xác minh xử lý.
Đối với số ma túy thu giữ tại mặt ghế salon trong phòng thờ tầng 2 nhà Hoàng Thị L (niêm phong ký hiệu là “KX1” là chất ma túy Heroine có tổng khối lượng 37,137 gam): Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đấu tranh với các bị can và những người có liên quan nhưng chưa xác định được là của ai, mục đích để làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách hành vi, vật chứng có liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Về nguồn gốc số ma túy mà Khổng Đình H bán cho Hà Văn K và số ma túy mà Cơ quan điều tra thu giữ trên giàn hoa giấy trước ban công tầng 2 nhà L (niêm phong ký hiệu là “Số 01” và “KX2”): Quá trình điều tra, H khai nhặt được số ma túy trên trong nhà L vào sáng ngày 03/01/2019, H nghĩ số ma túy trên là của L; L xác định số ma túy trên là của L nhặt được ở khu vực trước cửa nhà mình nhưng không biết là của ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.
Đối với số tiền 37.450.000 đồng mà Cơ quan điều tra tạm giữ tại phòng ngủ tầng 1 nhà L khi khám xét khẩn cấp. Qua điều tra xác định trong đó có 2.450.000 đồng là tiền của L, còn lại 35.000.000 đồng là tiền của anh Dương Minh T, sinh năm 1979 (là con trai L) ở số nhà 297, đường M1, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang không liên quan đến hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 26/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại số tiền 35.000.000 đồng cho anh T.
Đối với số tiền 1.078.000 đồng trong tổng số tiền 1.178.000 đồng mà Cơ quan điều tra tạm giữ khi bắt giữ Khổng Đình H và số tiền 19.178.000 đồng mà Cơ quan điều tra tạm giữ tại phòng thờ tầng 2 nhà L khi khám xét khẩn cấp nhà L. Qúa trình điều tra xác định số tiền 1.078.000 đồng là của chị Nguyễn Cẩm D1, sinh năm 1992 (là vợ H) ở số nhà 14, ngách 49, ngõ 40, đường M1, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; số tiền 19.178.000 đồng là của anh Dương Minh T, sinh năm 1979 (là con trai L) không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 24/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B ra quyết định xử trả lại tài sản là số tiền trên cho chị D1 và anh T.
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 2.550.000 đồng; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Hoàng Thị L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo mầu đen có số IMEL 1 là 869525022959130, số IMEL 2 là 869525022959122; 10 túi nilon mầu trắng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ và toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 04 phong bì thư có ký hiệu là “Số 01”, “Số 02”, “KX2” và “KX3” được nhập kho vật chứng để xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Khổng Đình H, bị cáo Hoàng Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 91/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị L 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2019 đến ngày 25/4/2019. Phạt bổ sung bằng tiền 10 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên phạt với các bị cáo khác, tuyên giải quyết vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo, các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật.
Ngày 01/7/2019, bị cáo Hoàng Thị L làm đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: án sơ thẩm xử phạt bị cáo nặng, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã nộp 10 triệu đồng tiền phạt bổ sung, ông nội bị cáo có huân huy chương kháng chiến, bị cáo sức khỏe yếu, bị bệnh tiểu đường có hồ sơ bệnh án điều trị, mắt mờ, tai điếc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L, đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm.
Bị cáo Hoàng Thị L không có tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo Hoàng Thị L: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa thấy đủ cơ sở xác định: Hồi 06 giờ 27 phút ngày 03/01/2019, tại nhà Hoàng Thị L ở số 07, ngõ 132, đường M1, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Công an thành phố B bắt quả tang Hoàng Thị L có hành vi tàng trữ trái phép 4,433 gam chất ma túy Heroine và 0,237 gam chất ma túy Methamphetamine mục đích để bán; bị cáo H đã lấy 01 gói ma túy do bị cáo L tàng trữ trái phép, trong đó có 1,709 gam chất ma túy Heroine và 0,237 gam chất ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguồn gốc phát sinh của nhiều tội phạm, có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, kinh tế, hạnh phúc của con người. Sử dụng trái phép chất ma túy có thể dẫn đến chết người, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Hoàng Thị L thừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm nêu là đúng, không oan. Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Hoàng Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật..
Xét kháng cáo cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Thị L thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo L đã từng bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến chống Mỹ. Cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình biên lai về việc đã nộp 10 triệu đồng tiền phạt bổ sung, ông nội bị cáo có huân, huy chương, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng thêm cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ do vậy, HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo L là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị L. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2019 đến ngày 25/4/2019.
[2] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: bị cáo Hoàng Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; -VKS, TA, CA TP Bắc Giang; -Chi cục THADS TP Bắc Giang; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Ngô Quang Dũng Dương Thế Vinh | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Dung THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung |