vanban.org

Bản án 113/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Trần Thị P ly hôn anh Đặng Văn D.

Về con chung: Giao chị P được quyền nuôi con chung là Đặng Trần Thái V sinh ngày 05/10/2017. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "P - D"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Trần Thị P ly hôn anh Đặng Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2019/HNGĐ-ST
Ngày 15 – 8 – 2019
V/v “Ly hôn, TC con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Độ.

Ông Nguyễn Minh Khâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị P; sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Đặng Văn D; sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị P có mặt, anh D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị P trình bày:

Chị và anh Đặng Văn D kết hôn ngày 30/11/2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được 7 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D đua đòi, cờ bạc không chịu khó làm ăn chăm lo gia đình. Từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Nay chị P xác định tình cảm không còn, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, cháu tên Đặng Trần Thái V sinh ngày 05/10/2017, hiện cháu đang ở với chị. Chị P có nguyện vọng sau ly hôn được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ: Không có, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã tiến hành triệu tập anh D nhiều lần và trực tiếp gặp mẹ đẻ của anh D tại UBND xã T, tống đạt thông báo hòa giải và giải thích quyền và nghĩa vụ của anh D khi tham gia tố tụng, bà Tăng Thị S là mẹ của anh D cho biết đã thông báo cho anh D các thủ tục báo gọi của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, nhưng anh D hiện đang làm xa không có chỗ ở ổn định, bà S đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Chị P vẫn giữ quan điểm xin ly hôn anh D. Về con chung chị P có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa có ý kiến:

Về thủ tục thụ lý vụ án và các thủ tục tố tụng khác TAND huyện Trực Ninh đã tiến hành đầy đủ đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị P đối với anh Đặng Văn D. Về con chung, giao chị P được quyền nuôi cháu tên Đặng Trần Thái V sinh ngày 05/10/2017. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản và các vấn đề khác không có, không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà - Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã tiến hành các quy trình tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, triệu tập, hòa giải, anh D đã biết nhưng cố tình lẩn tránh không chấp hành do vậy Tòa án nhân dân huyện trực Ninh căn cứ quy định pháp luật giải quyết vắng mặt.

Nội dung vụ án: Chị Trần Thị P và anh Đặng Văn D có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống không hạnh phúc nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh D không có trách nhiệm với gia đình. Nay chị P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D. HĐXX xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị P và anh D đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P, như vậy là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị P và anh D có 01 con chung tên cháu tên Đặng Trần Thái V sinh ngày 05/10/2017, hiện cháu đang ở với mẹ. Chị P có nguyện vọng sau ly hôn được nuôi dưỡng con chung. Do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị P, giao chị P được quyền nuôi cháu V. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản và các vấn đề khác không có, HĐXX không đề cập giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị P phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

1. Xử cho chị Trần Thị P ly hôn anh Đặng Văn D.

2. Về con chung: Giao chị P được quyền nuôi con chung là Đặng Trần Thái V sinh ngày 05/10/2017. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Chị P phải nộp án phí 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số BB/2012/05013 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh (Chị P đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm).

Chị P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.

Trong tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù th× c¸c ® ¬ng sù; cã quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù.

Cỡ chữ