vanban.org

Bản án 113/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Vũ Mỹ C.

[1] Về hôn nhân: Chị Phạm Vũ Mỹ C được ly hôn với anh Trần Hoàng L. [2] Về con chung: Giao cho chị Phạm Vũ Mỹ C được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Trần Minh H, sinh ngày 02/5/2008 và anh Trần Hoàng L không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Vũ Mỹ C - Trần Hoàng L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Vũ Mỹ C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 7 – 2017
V/v tranh chấp ly
hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Tấn Liêm.

2. Bà Lữ Phúc Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 7 năm 2017 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2017/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Vũ Mỹ C, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số T, khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng L, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/4/2017 và các lời khai tại Tòa án, chị Phạm Vũ Mỹ C (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh L thành hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cải và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị xác định có 01 con chung tên Trần Minh H, sinh ngày 02/5/2008. Hiện tại con đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Trần Hoàng L, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị C nhưng anh L không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh L tham gia hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh L vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.

Do điều kiện đi lại khó khăn, chị Phạm Vũ Mỹ C có đơn xin vắng mặt đề ngày 28/6/2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Trần Hoàng L tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do và chị Phạm Vũ Mỹ C có đơn xin vắng mặt đề ngày 28/6/2017 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt chị C theo quy định tại Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị C và anh L thành hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Tại Tòa án, chị C vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh L, với những nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cải, đã có thời gian sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh L không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị C, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị C và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị C, cho chị C được ly hôn với anh L là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị C xác định có 01 con chung tên Trần Minh H, sinh ngày 02/5/2008. Hiện tại con đang sống với chị. Tại Tòa án, chị C yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ ngày sống ly thân cho đến nay con do chị C nuôi dưỡng cũng đã ổn định, sức khỏe vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, theo biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2017 cháu Trần Minh H có nguyện vọng sống với chị C và anh L cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi con nên yêu cầu nuôi con của chị C là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị C giao cháu Trần Minh H cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh L không có ý kiến về vấn đề này, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Vũ Mỹ C.

[1] Về hôn nhân: Chị Phạm Vũ Mỹ C được ly hôn với anh Trần Hoàng L.

[2] Về con chung: Giao cho chị Phạm Vũ Mỹ C được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Trần Minh H, sinh ngày 02/5/2008 và anh Trần Hoàng L không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Hoàng L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Vũ Mỹ C phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011195 ngày 17/4/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Phạm Vũ Mỹ C và anh Trần Hoàng L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ