- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Ngọc T được ly hôn với ông Trần Đông N.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:1128/2017/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2017 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Ông Nguyễn Thành Vinh
2. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 708/2017/TLST-HNGĐ ngày 10/7/2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2017/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
-"Nguyên đơn: Bà Dương Ngọc T, sinh năm 1976.
Thường trú: 68 Đường số C, khu phố H, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Dương Ngọc T có mặt tại phiên toà
-"Bị đơn: Ông Trần Đông N, sinh năm 1970.
Thường trú: 303C đường Q, khu phố 6, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Đông N có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Dương Ngọc T trình bày:
Bà và ông Trần Đông N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 98, quyển số I/2001 ngày 03/12/2001 tại Uỷ ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi đăng ký kết hôn, bà và ông N cùng cư ngụ tại địa chỉ 303C đường Q, khu phố 6, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống của ông bà không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng bà là do ông N có tính gia trưởng, chi ly trong việc chi tiêu sinh hoạt gia đình, không có trách nhiệm trong việc phụ giúp bà về tài chính để nuôi dưỡng con, thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, có những lời lẽ xúc phạm và hành vi đánh bà lúc mang bầu. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà đã quyết định đưa con về nhà mẹ ruột ở và chính thức sống ly thân với ông N từ năm 2010 cho đến nay. Trong gần 08 năm qua, bà và ông N không có sự quan tâm, chăm sóc cho nhau, không có quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn ông N. Bà Dương Ngọc T xác nhận bà và ông N có 01 người con chung chưa thành niên tên Trần Hoàng D, sinh ngày 14/7/2003. Hiện trẻ Trần Hoàng D đang do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, bà yêu cầu Toà án chấp nhận cho bà được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông Trần Đông N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà Dương Ngọc T xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Bà Dương Ngọc T xác định không có. * Tại bản tự khai và trong quá trình xét xử, bị đơn Trần Đông N trình bày: Ông xác nhận ông và bà Dương Ngọc T tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2001, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 98, quyển số I/2001 ngày 03/12/2001 tại Uỷ ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ 303C đường Q, khu phố 6, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Việc bà T lấy lý do vì mâu thuẫn vợ chồng phải về nhà mẹ ruột ở là không đúng vì sau khi ba của bà T chết, bà T về nhà mẹ ở để tiện trong việc chăm sóc mẹ. Vợ chồng vẫn thường xuyên lui tới, thăm nom nhau và cùng có trách nhiệm chăm sóc con. Ông xác định vẫn còn tình cảm với vợ, muốn đoàn tụ gia đình nên không muốn ly hôn với bà T. Về con chung: Ông xác nhận ông và bà T có 01 người con chung chưa thành niên tên Trần Hoàng D, sinh ngày 14/7/2003. Ông không tranh chấp về quyền nuôi con. Ông tôn trọng nguyện vọng của con. Nếu con muốn ở với ông thì ông cũng đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Ông Trần Đông N xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Ông Trần Đông N xác định không có. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của bà Dương Ngọc T là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà Dương Ngọc T được ly hôn với ông Trần Đông N. Về con chung: Bà Dương Ngọc T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Hoàng D, sinh ngày 14/7/2003. Ông Trần Đông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn. Bị đơn ông Trần Đông N có nơi cư trú tại 303C đường Q, khu phố 6, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Ngọc T và ông Trần Đông N tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 98, quyển số I/2001 ngày 03 tháng 12 năm 2001. Do đó, căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông N là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn ông Trần Đông N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có sự thoả thuận hoặc có lý do chính đáng khác.
Theo lời trình bày của bà T thì mâu thuẫn gia đình của bà và ông N đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện hai người đã không còn sống chung với nhau từ 08 năm nay, không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Bản thân ông N không thừa nhận những lời khai của bà T, ông cho rằng việc bà T về nhà mẹ ruột ở mục đích là để chăm sóc mẹ chứ không phải vì mâu thuẫn gia đình. Ông không đồng ý ly hôn bà T vì xác định vẫn còn tình cảm với bà. Xét tình cảm vợ chồng được xây dựng là dựa trên cơ sở của sự tôn trọng, yêu thương, sự nỗ lực vun đắp từ hai phía. Quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông N không tồn tại tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được do thời gian hai vợ chồng không sống chung với nhau đã kéo dài gần 08 năm nay. Để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn với ông Trần Đông N. 2. Về con chung: Bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chưa thành niên tên Trần Hoàng D, sinh ngày 14/7/2003, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con. Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện trẻ Trần Hoàng D đang do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và được đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt. Ông Trần Đông N không tranh chấp về quyền nuôi con. Trẻ Trần Hoàng D cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận để bà T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng D. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Toà án không xem xét yêu cầu này. 4. Về tài sản chung: Ông Trần Đông N và bà Dương Ngọc T xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. 5. Về nợ chung: Ông Trần Đông N và bà Dương Ngọc T xác định không có. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Ngọc T phải chịu. Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, 186, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Ngọc T được ly hôn với ông Trần Đông N.
- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Trần Hoàng D, sinh ngày 14/7/2003 cho bà Dương Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Đông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông Trần Đông N và bà Dương Ngọc T xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Trần Đông N và bà Dương Ngọc T xác định không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Dương Ngọc T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0015764 ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Dương Ngọc T đã thi hành xong nghĩa vụ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Dương Ngọc T và ông Trần Đông N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện KSND quận Thủ Đức, Tp.HCM; - Chi cục THADS quận Thủ Đức, Tp.HCM; - Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Thị Minh |